Nhà nữ khoa học có nhiều duyên nợ với truyện Kiều

Chị Phạm Tú Châu (1935-23 - 3-2017) vừa ra đi thì hàng loạt bài báo xuất hiện ca ngợi chị: Bài thì gọi chị là "nhà văn", bài thì gọi là "nhà nghiên cứu", nhiều bài thì gọi là "dịch giả". Gọi thế nào cũng đúng nhưng tôi muốn dùng một danh xưng phản ánh đầy đủ nhất, xứng đáng nhất hoạt động của cả cuộc đời của chị là "nhà khoa học". Dĩ nhiên, dịch thuật là hoạt động chiếm nhiều thời giờ nhất trong đời chị.

Ngay từ năm 1998, với giải thưởng của Hội Nhà văn, chị đã nổi lên như một ngôi sao dịch thuật tiếng Trung. Nhưng giải thưởng ấy hoàn toàn chưa nói lên được hết thành tích của chị ở lĩnh vực này. Ở đây tôi chỉ xin được nêu lên một ý kiến cá nhân: Dịch giả Phạm Tú Châu rất xứng đáng được đề nghị truy tặng Giải thưởng Nhà nước về dịch thuật.

Không phải là tất cả nhưng không ít dịch phẩm của Phạm Tú Châu đáng được xem là công trình nghiên cứu, vì độ khó của chúng đòi hỏi một trình độ khoa học và khả năng vận dụng nhiều thao tác nghiên cứu khá cao, đặc biệt là vì không ít dịch phẩm ra đời do sự thôi thúc của những động cơ khoa học cụ thể. Chỉ cần đọc tên sách "Dịch và nghiên cứu Kim Vân Kiều lục" dày 283 trang chị vừa gửi tặng Ban Quản lí Di tích Quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Đại thi hào Nguyễn Du là ta đã thấy rõ điều ấy.

Hướng hoạt động chuyên môn ưu tiên thứ hai của chị là "Truyện Kiều". Hướng này xuất hiện sau, nhưng có lẽ sự đóng góp về mặt này của chị lại còn có ý nghĩa hơn. Tôi hoàn toàn tán đồng với ý kiến của Nhị Linh: "Phạm Tú Châu là một nhân vật có tiếng nói hết sức quan trọng trong giới nghiên cứu Kiều". 

Mối quan hệ giữa "Truyện Kiều" của Nguyễn Du và "Kim Vân Kiều truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) là một vấn đề rất lớn và có tính chất chìa khoá, vì có làm sáng tỏ mọi khía cạnh của vấn đề đó mới giải thích được rốt ráo nhiều vấn đề cơ bản khác. Tuy nhiên, phải đến giữa thế kỉ trước, chúng ta mới thực sự chú ý đến vấn đề này.

Và "sóng gió" (chữ của chị Tú Châu) bắt đầu nổi lên khi xuất hiện bài báo "So sánh Kim Vân Kiều truyện của Trung Quốc và của Việt Nam" của học giả Trung Quốc Đổng Văn Thành đăng trên hai tập "Minh Thanh tiểu thuyết luận tùng" (1986, 1987).

Chưa hết, năm 1994, ông lại viết một bài ngắn hơn nhan đề là "Kim Vân Kiều truyện" in trong cuốn "Minh Thanh tiểu thuyết giám thưởng từ điển". Điều đáng nói là ngay ở kết luận 1 của phần I, chúng ta đã bắt gặp những dòng sau: "Nhìn tổng thể, tôi thấy Truyện Kiều của Nguyễn Du bất luận về nội dung hay về nghệ thuật (Phần II sẽ nói rõ), đều không vượt được trình độ bản gốc mà nó mô phỏng" (Sđd, trang 1552)”.

Dịch giả Phạm Tú Châu.
Dịch giả Phạm Tú Châu.

Là người dịch bài của Đổng Văn Thành, hơn ai hết Phạm Tú Châu là người thấy đầu tiên và thấy hết những luận điểm hoang đường, sai trái đó phần lớn là do Đổng Văn Thành dựa vào những sai sót trong bản dịch "Truyện Kiều" của Nguyễn Du ra tiếng Trung Quốc do NXB Nhân dân Bắc Kinh in năm 1959 của Giáo sư Hoàng Dật Cầu ở Học viện Sư phạm Hoa Nam. Mà muốn phê phán Đổng Văn Thành thì lại phải bắt đầu từ chỗ chỉ ra những sai sót của Hoàng giáo sư.

Thật ra thì ngay từ năm 1990, trên Báo Văn nghệ số 44, trong bài "Đọc Truyện Kiều bản dịch Trung văn", chị Tú Châu đã bước đầu chỉ ra một số hạn chế trong bản dịch của Hoàng giáo sư. Chị cũng tưởng đặt vấn đề như thế và nói đến thế là đủ, nhưng nào ngờ, 7 năm sau, tình huống đã buộc chị phải nói lại, nói thêm, nói kĩ và nói mạnh hơn.

Có biết thế mới hiểu vì sao sau khi đã dùng đến gần 10 trang vạch ra tiếp những sai sót của bản dịch, chị đã tâm sự: "Sau năm 1990, tôi vốn không định viết thêm về chất lượng bản dịch Truyện  Kiều ra Trung văn bởi xưa nay tôi vẫn tôn kính học giả hết lòng vì Việt Nam như Giáo sư Hoàng Dật Cầu. Nhưng…".

Chuyện nào ra chuyện nấy. Rồi chị vẫn phải làm vì không thể không làm do hiện tượng các bài viết của Đổng Văn Thành nói trên. Năm sau, trên Tạp chí Hán Nôm, số 3 năm 1998, nhà nghiên cứu Hoàng Văn Lâu lại viết bài "Cũng là một kiểu "so sánh văn học", tiếp tục phê phán Đổng Văn Thành về những chỗ bịa đặt trắng trợn và những chỗ hiểu sai một cách ngờ nghệch.

Khi chỉ ra nguyên nhân của sai lầm, ngoài lý do chị Châu đã nêu, Hoàng Văn Lâu còn chỉ ra một cách đích đáng rằng, vì ông Thành không hiểu biết gì "về văn hoá Việt Nam, về văn học Việt Nam, đặc biệt về tiếng Việt, về thể truyện thơ Nôm Việt Nam cùng thị hiếu văn chương của người Việt Nam".

Thấy chị Châu và anh Lâu chưa đả động đến bài của ông Thành in trong "Minh Thanh tiểu thuyết giám thưởng từ điển", ngay năm tiếp theo, tôi lại viết bài "Nhân đọc bài Kim Vân Kiều truyện của Đổng Văn Thành" đăng trên Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ số 3 năm 1999 và in lại trong tuyển tập "Mối quan hệ giữa văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc qua cái nhìn so sánh".

Bài viết của tôi tập trung phê phán quan điểm đánh giá thấp giá trị của “Truyện Kiều". Bất kể anh Lâu và tôi có đóng góp gì trong đợt tranh luận này, người có công đầu vẫn là chị Tú Châu. Bản dịch toàn văn bài viết dài của Đổng Văn Thành của chị mãi vẫn là một tài liệu tham khảo quý đối với giới Kiều học.

Cho đến thời điểm này đã có 9 bản dịch "Truyện Kiều" ra tiếng Trung, nhưng theo tôi, 3 bản có giá trị nhất và đáng chú ý nhất là bản của Giáo sư Hoàng Dật Cầu (mặc dầu có những sai sót về chữ nghĩa mà chị Châu đã chỉ ra một cách khá cặn kẽ), bản dịch của học giả La Trường Sơn in ở Việt Nam (NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí Minh, 2006) và bản của nữ Giáo sư Triệu Ngọc Lan (in trong cuốn "Kim Vân Kiều truyện phiên dịch dữ nghiên cứu", NXB Đại học Bắc Kinh, 2013).

Tôi quen La Trường Sơn trước chị Châu vài năm nhờ một việc tình cờ: Bài "Vài nét về thơ Hồ Xuân Hương ở nước ngoài" của tôi đăng ở Báo Người Hà Nội số ra ngày 15-3-1997 (trong đó có phần đánh giá cao công trình nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương và những bài dịch thơ Hồ Xuân Hương của La Trường Sơn) được nhà nghiên cứu Lý Hoa dịch và đăng ở Tạp chí Toàn cảnh Đông Nam Á số 3 năm 1997.

Thế là tôi được Viện Khoa học Giáo dục Quảng Tây, nơi La tiên sinh công tác mời tôi sang thăm, và từ đó mối quan hệ giữa chúng tôi ngày càng gắn bó. Theo tôi, có lẽ La tiên sinh là nhà Việt Nam học của Trung Quốc đã dịch những tác phẩm văn học, những công trình nghiên cứu văn học và văn hoá của Việt Nam nhiều nhất; cho đến nay tôi đã viết 5 bài giới thiệu đóng góp của học giả này.

Đầu năm 2000, khi nhờ tôi chuyển công trình dịch thuật và nghiên cứu về thơ Hồ Xuân Hương cho NXB Thế giới để in tại Việt Nam, La tiên sinh có đưa cho tôi xem một đoạn dịch thử "Truyện Kiều" và bày tỏ ý định cũng như quyết tâm dịch xong trong thời gian một vài năm.

Hình dung công việc không hề đơn giản, tiên sinh rất muốn có sự giúp đỡ và cộng tác của các nhà khoa học Việt Nam. Tôi đã hứa sẽ mời một số bạn bè am hiểu Hán Nôm và đã quen La tiên sinh như anh Kiều Thu Hoạch, chị Phạm Tú Châu… cùng góp phần nâng cao chất lượng bản dịch cũng như tạo điều kiện cho bản dịch ra mắt độc giả càng sớm càng tốt.

Tôi mang đoạn dịch thử về, nhưng chỉ có chị Tú Châu là có điều kiện góp ý được cho La tiên sinh. Trong quá trình dịch, thỉnh thoảng La tiên sinh còn gọi điện đề nghị chị Châu góp ý về những câu thơ ông còn ngờ để kịp hoàn thành bản thảo.

Tiếc thay, khi bản dịch chưa thực sự được hoàn thiện và chưa kịp viết phần "Dịch hậu ký" thì tiên sinh đã qua đời! Vì nguyện vọng của dịch giả là công bố công trình ở Việt Nam, lúc đầu gia đình ủy thác cho chị Châu lo liệu, nhưng sau biết tôi quen việc này hơn, con trai Giáo sư La Trường Sơn là La Đồng Tân lại gọi điện nhờ tôi và tất nhiên tôi đã vui vẻ nhận lời.

Tuy nhiên, làm được việc này cũng không đơn giản, tôi và chị Châu đã phải gặp nhau để phân công bàn bạc: Chị Châu phụ trách hoàn chỉnh bản thảo, tôi phụ trách dịch và hoàn thiện phần chú thích; chị Châu dịch bài "Đại thi hào Nguyễn Du và truyện Kim Vân Kiều" của Giáo sư La Trường Sơn, một tiểu luận cực kỳ nghiêm túc và có quan điểm gần như hoàn toàn phù hợp với các nhà Kiều học Việt Nam, tôi phụ trách viết bài "Thay lời giới thiệu".

Cuối cùng, tôi đã thay mặt gia đình dịch giả ký được hợp đồng xuất bản với Công ty Văn hoá Phương Nam và NXB Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh. Sách in và trình bày đẹp, 2000 bản mà chỉ trong một thời gian ngắn đã tiêu thụ hết. Có lần tôi nói vui với chị Châu: Lần trước, trong vụ Đổng Văn Thành, tôi và chị "hợp tác gián tiếp" và "hợp đồng tác chiến", lần này là "hợp tác trực tiếp" và "hợp đồng xây dựng"!

Nói đến đóng góp của chị Phạm Tú Châu đối với việc nghiên cứu "Truyện Kiều", sẽ còn thiếu sót nếu không nhắc tới bài chị nhận xét về cuốn "Từ điển Truyện Kiều" của Đào Duy Anh chị vừa mới cho đăng trên Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư hai số liền và cuốn "Kim Vân kiều lục", công trình nghiên cứu và dịch thuật của chị xuất hiện trong dịp kỉ niệm 250 năm năm sinh đại thi hào Nguyễn Du gần đây.

Dĩ nhiên, "Truyện Kiều" là tác phẩm vĩ đại, nên thành tựu nghiên cứu và dịch thuật của chị Tú Châu về một phương diện của mối quan hệ giữa nó với "Kim Vân Kiều truyện" chỉ là một hướng nghiên cứu cụ thể, nhưng một đời người với một hoàn cảnh riêng cực kì khó khăn như chị mà làm được ngần ấy việc thì thực sự đáng làm cho mọi người phải kính nể. Những công trình của chị để lại không chỉ góp phần giải quyết nhiều vấn đề cụ thể của ngành Kiều học mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành liên quan như văn học so sánh, văn bản học, Hán Nôm học, Việt ngữ học, lý thuyết tiếp nhận…

Sự ra đi quá đột ngột của chị lại làm cho chúng ta cảm nhận rõ hơn tầm vóc, bản lĩnh, nhân cách của chị. Sự có mặt của Giáo sư Trần Ích Nguyên ở Đài Loan bay vội sang Việt Nam để kịp tiễn chị về cõi vĩnh hằng càng làm cho mọi người xót xa, thương tiếc. Trước mắt, xin đề nghị cơ quan nơi chị công tác và bạn bè, học trò xa gần của chị bắt tay ngay vào việc biên soạn một cuốn sách để ghi công và tưởng niệm chị, mang tên "Tuyển tập Phạm Tú Châu", hoặc là "Phạm Tú Châu với Truyện Kiều".

Nguyễn Khắc Phi

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.