Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Đến nay, ông đã tự tay đánh máy hơn 14.000 trang tư liệu khổ A4, phân chia thành trên 21 đầu sách bản thảo. Đó là những công trình như Bách khoa thư Quan họ, Từ điển Quan họ, tuyển tập hàng nghìn câu ca, các chuyên đề về điển tích - điển cố, Quan họ với Phật giáo, với thơ Kiều, ca dao, chèo, tuồng...

Trên cương vị Chủ tịch Hội đồng hương Bắc Ninh tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu" (nay là khu vực 3 Hội đồng hương Bắc Ninh tại TP Hồ Chí Minh), ông không chỉ nghiên cứu quan họ về mặt học thuật mà còn cùng các hội viên thành lập câu lạc bộ Quan họ giao duyên duy trì sinh hoạt liên tục hơn 10 năm đưa quan họ từ miền Kinh Bắc thấm sâu vào không gian văn hóa phương Nam và lan truyền trong đời sống cộng đồng nét đẹp văn hóa này.

-nh ông nguy-n tr-ng h-i.jpg -0
Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải.

Từ làng quan họ cổ - nơi đời sống mang tâm hồn dân ca

Sinh ra và lớn lên tại làng quan họ cổ Yên Mẫn vào năm 1965, ông Nguyễn Trọng Hải được nuôi dưỡng trong không gian văn hóa quan họ ngay từ thuở ấu thơ. Quan họ đến với ông không phải từ sách vở, mà từ lời ru của mẹ, từ những canh hát thâu đêm, từ tiếng trống hội, tiếng mõ chùa, từ nhịp sống dung dị mà đằm sâu nghĩa tình của làng quê Kinh Bắc.

Từ năm 1983, ông nhập ngũ và công tác trong lực lượng Công an nhiều năm ở phương Nam. Khoảng cách địa lý càng khiến ký ức quan họ trong ông trở nên sâu đậm, thôi thúc ông trở về quê hương Kinh Bắc bằng con đường sưu tầm, nghiên cứu.

Ông chia sẻ một cách giản dị mà thuyết phục: nghề Công an và nghiên cứu quan họ tưởng chừng không liên quan, nhưng lại gặp nhau ở sự nghiêm cẩn, chừng mực và chuẩn mực trong hành vi ứng xử - những phẩm chất cốt lõi của văn hóa quan họ truyền thống.

Có lẽ, trường hợp của ông đã chứng minh rằng, việc tự trang bị kiến thức và tự học quan trọng hơn việc trang bị một tấm bằng! Bởi, suốt một chặng đường bền bỉ, công phu ông đã gom tụ một “bảo tàng quan họ” qua những trang ghi chép, qua chuyến đi thực địa dày công sưu tầm, nghiền ngẫm để luận giải, kết nối giá trị quan họ với các giá trị nghệ thuật khác trong hệ sinh thái văn hóa đa dạng từ cổ đến kim.

Không biết danh xưng nhà nghiên cứu văn hóa hay là nhà nghiên cứu sưu tầm quan họ thì đúng với trường hợp của ông Nguyễn Trọng Hải - một người không xuất thân từ giảng đường hay viện nghiên cứu, nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm  bằng hoạt động sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn để hình thành một kho tư liệu đồ sộ, công phu về dân ca quan họ, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Đam mê để giải mã giá trị quan họ trong đời sống cổ kim

Trong lời ca quan họ, trầu cau gắn với nhân duyên, nghĩa tình. Quan họ nâng sinh hoạt đời thường lên thành nghệ thuật giao tiếp, thành triết lý sống đậm chất nhân văn qua lời ca quan họ, đối đáp giao duyên trong quan họ... Ông Hải đã nghiên cứu quan họ nhuần nhuyễn đến độ hiểu quan họ gắn kết với nhiều hình ảnh, hoạt động khác trong đời sống như quan họ với hình tượng ngựa...

Trong kho tàng dân ca quan họ, ngựa xuất hiện với nhiều lớp nghĩa: phương tiện đi lại trong lễ hội, biểu tượng của quyền quý, giàu sang và cả ẩn dụ tinh tế cho duyên phận con người. Với không khí lễ hội rộn ràng, ngựa hiện diện như nhịp chuyển động của đời sống:

Ba tổng kéo hội mồng bảy hội Khám
Mồng chín kéo về ngựa xe cửa đền.

Ngựa cũng gắn với hình ảnh tài tử giai nhân, với “dù che ngựa cưỡi”, “yên ngựa hồng”, phản ánh không gian thẩm mỹ thanh lịch của xã hội xưa. Đặc biệt, hình ảnh quân mã trong cờ tướng được quan họ sử dụng như một ẩn dụ sâu sắc cho tình duyên trắc trở:

Chơi cờ lòng lại sơ tâm
Đang đi nước mã lại nhầm nước xe.

Qua hình tượng con ngựa, quan họ không chỉ kể chuyện tình yêu, mà còn phản ánh những lựa chọn, sai lầm, khát vọng và thân phận con người trong đời sống xã hội.

Ông Nguyễn Trọng Hải không chỉ sưu tầm câu ca, mà còn đi sâu giải mã các biểu tượng văn hóa trầu cau cũng từng giữ vị trí trung tâm trong đời sống tinh thần người Việt thời xưa với “Miếng trầu là đầu câu chuyện”. Miếng trầu trong quan họ không đơn thuần là vật ăn chơi, mà là lễ nghĩa mở đầu, là cánh cửa bước vào giao duyên. Và, trầu cau là một biểu tượng  trong nghệ thuật “ẩm thực” quan họ.

Trước kia, miếng trầu được cuốn hình kén sâu xếp đơn giản lên đĩa, nhưng dần nâng lên thành nghệ thuật têm trầu. Miếng trầu phải đủ vị, vừa tươi ngon, đặc biệt là trầu têm cánh phượng, trở thành thước đo của sự khéo léo, nết na, nhân cách người con gái: Trầu này trầu túi trầu khăn/ Cùng trầu dải yếm anh ăn trầu nào?

b- d- dao b- tr-u cau và bình vôi -ng nh- dùng trong an tr-u c-a bu-i g-p g- giao duyên quan h-.jpg -1
Bộ dao bổ trầu cau và bình vôi, ống nhổ dùng trong ăn trầu của buổi gặp gỡ giao duyên quan họ.

Trong nghệ thuật dân ca quan họ, trang phục là hình thức nhận diện rõ nét nhất, nhưng bộ đồ dùng trầu cau là thứ không thể thiếu trong các buổi gặp gỡ, buổi hát giao duyên, buổi lễ kết chạ... Tại căn phòng trưng bày của gia đình ông có bộ dụng cụ dùng cho trầu cau khá đầy đủ và là đồ cổ như: Bộ dao bổ cau, cắt lá trầu, cơi đựng trầu, tráp đựng trầu cau... Bên cạnh đó còn có các bình, lọ từ niên đại cổ mà ngày xưa các cụ quan họ dùng đựng rượu, đựng gạo... được bày đặt tự nhiên tạo nên âm hưởng sang trọng, đẹp đẽ biết chừng nào về đời sống văn hóa của dân ca quan họ. 

Ở làng Diềm, ông cùng các nghệ nhân Nguyễn Thị Sang - Nguyễn Thị Thềm lập ra thư viện - Bảo tàng Quan họ Sang - Thềm. Tại Nhà hát Quan họ và Thư viện Quan họ Bắc Ninh, ông còn trưng bày ở đó một tủ tư liệu và đồ kỷ vật quan họ.

Hành trình sưu tầm bền bỉ và kho tư liệu kỷ lục

Từ những năm 1970, ông Nguyễn Trọng Hải đã có những duyên cơ để từng được tham gia các hoạt động nghiên cứu, thực hành quan họ. Năm 1974, gia đình ông đã cho mượn nhiều đồ vật cổ như mâm, bát, nón, cơi trầu để làm bộ phim “Đến hẹn lại lên” liên quan đến đời sống vùng đất của người quan họ...

Đến năm 1996, ông Nguyễn Trọng Hải mới thực sự đi sâu vào con đường sưu tầm, nghiên cứu văn hóa quan họ một cách bài bản. Dù sống xa quê, với những chuyến trở đi trở về quê nhà, ông tự đặt ra cho mình một phương pháp nghiên cứu độc lập, nghiêm túc: không sao chép lại các tài liệu đã in, mà trực tiếp điền dã, gặp gỡ nghệ nhân, liền anh liền chị gạo cội, ghi chép từng dị bản, từng lối ca, từng phong tục sinh hoạt gắn với quan họ.

Từ sự miệt mài ấy, đến nay, ông đã tự tay đánh máy hơn 14.000 trang tư liệu khổ A4, phân chia thành trên 21 đầu sách bản thảo - một con số hiếm thấy ngay cả trong giới nghiên cứu chuyên nghiệp. Đó là những công trình như Bách khoa thư Quan họ, Từ điển Quan họ, tuyển tập hàng nghìn câu hát, các chuyên đề về điển tích - điển cố, quan họ với Phật giáo, với thơ Kiều, ca dao, chèo, tuồng...

Đặc biệt, ông còn biên soạn tư liệu riêng cho từng làng quan họ cổ như Diềm, Nội Ninh, Thị Cầu, Châm Khê, Lũng Giang, Bò Sơn, Yên Xá..., giúp nhận diện rõ bản sắc riêng của từng làng trong chỉnh thể quan họ Kinh Bắc.

Điều đáng trân trọng là, dù khối lượng tư liệu đồ sộ và công phu, ông Nguyễn Trọng Hải không đăng ký bản quyền cho các bản thảo. Với ông, quan họ là tài sản chung của cộng đồng, còn người nghiên cứu chỉ là người “gom góp, sắp đặt và trả lại cho văn hóa dân gian những gì vốn thuộc về nó”. Ông cũng cung cấp toàn bộ những tư liệu nghiên cứu, sưu tầm của mình cho Thư viện điện tử Quan họ tỉnh Bắc Ninh, được thành lập năm 2025. Để công chúng tiếp cận dễ dàng với thông tin về dân ca quan họ, trên trang Facebook cá nhân của ông đã có hàng nghìn bài về quan họ được ông rút ngắn, tóm lược về quan họ khoảng vài trăm chữ.

Trong sự thầm lặng của người làm nghiên cứu không danh lợi, những trang sách của ông đang âm thầm tiếp nối mạch nguồn quan họ, để câu ca Kinh Bắc vẫn ngân vang, bền bỉ cùng thời gian và con người hôm nay.

Nguyễn Thị Thu Hà

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.