Nhà giáo, nhà thơ Đặng Hiển - Thầy tôi!

Nhà thơ Đặng Hiển tên thật là Đặng Đức Hiển, sinh ngày 9/5/1939, quê quán Hành Thiện, Xuân Trường, Nam Định vừa qua đời tối ngày 14/3/2020 tại Hà Nội do bệnh trọng, hưởng thọ 82 tuổi. Ông được phong Nhà giáo Ưu tú; là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam.

Các tác phẩm để lại gồm 17 tập thơ, 4 tập truyện ký, 6 tập kịch và 11 tập lí luận phê bình văn học. Về thơ, tính từ tập đầu tiên "Thời gian xanh" (in năm 1993) đến tập cuối cùng "Đất thiêng" (trường ca, 2017), nhà thơ Đặng Hiển đã công bố tất cả 15 tập, chưa kể hai tập thơ dịch những năm cuối đời. Về truyện ký, có 4 tập: "Cây đời mãi xanh", "Những hạt vàng quanh tôi" (2 tập) và "Cò Nam đi học". Về kịch, có 6 tập: "Con chúng ta", "Trên đồi thông", "Nỗi đau trồng người", "Điểm hẹn của lịch sử", "Áo trắng tháng Mười và Mỹ nhân nơi đồng cỏ". Về lý luận phê bình có 11 tập: "Cảm nhận và suy nghĩ", "Dạy văn học văn", "Bình luận văn học", "Văn chương - cảm nhận và bình luận", "Hoa sen", "Văn chương người cùng thời", "Văn học dưới góc nhìn địa văn hóa", "Đọc viết học", "Thơ hay và lời bình" (2 tập)," Thời gian và trang viết".

Nhưng lúc này, cái làm tôi nhớ nhiều nhất là những bài thơ, câu thơ về mái trường, về học trò, về những năm tháng đứng trên bục giảng của ông. Với nhà thơ Đặng Hiển, nghề giáo và làm thơ như hai vế song hành không thể tách rời, cùng đi theo suốt một hành trình 60 năm.

Bài thơ đầu tiên về chủ đề nhà trường mang tên "Về trường mới", viết năm 1961, đã đoạt giải cao của Báo Người giáo viên nhân dân thời ấy, những câu thơ mà giờ đây đọc lại vẫn còn nguyên vẻ trong trẻo tươi sáng thân thương: "Em ơi về trường mới/Lòng ta nay mở hội/ Những bậc thềm mát rượi bàn chân/ Ấm tường vàng, thơm những cửa vừa sơn/ Anh khép cánh cửa này/ Nhưng không khép lại trời mây/ Đất nước như tranh lồng tấm kính/ In hình trong đáy mắt thơ ngây".

Nhà giáo, nhà thơ Đặng Hiển và bài thơ nổi tiếng của ông được đưa vào giảng giảng dạy trong sách giáo khoa.
Nhà giáo, nhà thơ Đặng Hiển và bài thơ nổi tiếng của ông được đưa vào giảng giảng dạy trong sách giáo khoa.

Thầy Đặng Hiển có thật nhiều bài thơ dành riêng cho những người học trò với đủ các cung bậc, các câu chuyện, các nỗi niềm buồn, vui. Xúc động trước màu áo trắng học trò xứ Huế, ông có những vần thơ lục bát ngọt ngào: "Gần như một giấc mơ qua/ Xa như kỷ niệm tuổi hoa một thời/ Bồng bềnh như áng mây trôi/ Lại như phơi phới dòng đời cuộn đi/ Mát như gió lộng chiều hè/ Ấm như ánh lửa đông về mưa bay/ Thoảng như một ánh trăng ngày/ Bừng như tia nắng đầu cây sáng hè/ Dòng Hương ngân sóng pha lê/ Lọc qua áo ấy, chảy về tim tôi".

Suốt mấy chục năm đứng trên bục giảng, nhà giáo - nhà thơ Đặng Hiển cũng phải chứng kiến không ít nỗi buồn thương khi có những học trò phải giã từ cuộc sống khi mái tóc vẫn còn xanh, khi tuổi xuân vừa mới hé. Mỗi lần như thế, ông lại có những bài thơ, câu thơ nghẹn ngào, đau đớn xót xa: "Nhìn em tàn lụi từng giây/ Mẹ cha máu cạn, lệ đầy đêm đêm/ Bạn, thầy nuốt lệ vào tim/ Nghe em nói: "Cố sống thêm tháng này/ Tháng này là tháng Mười Hai/ Em lên mười tám là ngày chia xa… Ước gì có phép xẻ ra/ Cho em phần cuối đời ta cũng đành" (Thương em Hương đau bệnh hiểm nghèo), "Em nằm lại, nấm mồ chưa đắp trọn/ Hoàng hôn rồi, trời mờ mịt mưa bay/ Bình minh của ta ơi, sao sớm tắt/ Cỏ chưa mọc trên mồ, sương xuống buốt lòng ai" (Tưởng nhớ 1, gửi hương hồn Bùi Thị Nga).

Cũng có khi, có người học trò làm thầy buồn theo một cách khác, khi một ngày gặp thầy mà không hề chào hỏi, cứ dửng dưng như chưa quen biết. Thầy không trách mà chỉ đặt ra muôn vàn câu hỏi, và rồi cuối cùng chỉ còn lại nỗi bao dung: Hay là em có niềm đau/ Ước mơ ngày cũ tan vào thời gian?/ Hay là em lắm lo toan/Làm bao kỷ niệm héo tàn trong em?/ Hay là em mải bước lên/ Trường xưa lớp cũ lỡ quên nhớ về?/ Thì em ơi cứ đi đi/ Cầu cho thuyền ấy ngày kia đến bờ/ Tới ngày em thỏa ước mơ/ Bên chùm hoa tặng, có thơ của thầy" (Xa lạ).

Cũng có những người học trò làm thầy thật vui, thật tự hào như Anh hùng phi công Nguyễn Đức Soát, Trung tướng Quân đội. Và thế là cả một trường ca mang tên "Đôi cánh" dày dặn mấy trăm câu được ra đời: "Một buổi chiều, màu của đại dương xanh/ Soát đến gặp cấp trên, xin ở lại để đến ngày nhập ngũ/ Và lòng Soát như cánh buồm lộng gió/ Khi được cầm tờ lệnh đỏ trong tay".

Bên cạnh những bài thơ viết cho học trò, không thể không nhắc tới những bài thơ thầy viết cho chính mình, về những câu chuyện, suy nghĩ, tâm tư của cả một đời dạy học. Những ngày còn bước tới trường, đứng trên bục giảng thì mỗi ngày là một niềm vui lớn, niềm vui ấy được thắp lên từ chính những ánh mắt thơ ngây sáng trong của học trò: "Ơi những đứa em lứa tuổi trăng rằm/ Mắt ngước nhìn mùa thu, nhìn ô cửa mái trường/ Thấy lấp lánh ngày mai tươi sáng/ Em biết không ngày mai tươi sáng ấy/ Ta tìm lại trong mắt em, để ta có thể sống, có thể yêu và có thể quên/ bao nỗi nhọc nhằn nhuộm trắng từng sợi tóc/ Ta như tiếng trống mùa thu không biết đến già nua/ Cứ ròn rã cứ ngân vang/ nhịp với bước em chân sáo tới trường" (Lời chào mùa thu).

Cũng đôi khi không tránh khỏi những chua chát bởi miệng thế gian, nhưng rồi người dạy học - người làm thơ vẫn vượt qua tất cả bởi tình yêu dành cho các học trò: "Kèm trò mang tiếng dạy thêm/ Mồ hôi đẫm mấy đồng tiền hổ ngươi/ Tết xong là hết xuân rồi/ Hoa gạo đã nở như mời phượng sang/ Chuyến này đò sắp sang ngang/Lại lo chuyến tới có bằng chuyến nay/ Từng chồng bài chấm xếp dầy/ Có bao sợi bạc tóc thầy thành văn? (Năm học - đời thầy).

Thời gian càng trôi đi thì nỗi buồn ngày càng hiện rõ, khi nghĩ đến một ngày không còn được đứng trên bục giảng, không còn được đến trường với đàn học sinh thân yêu: "Phượng ơi phượng nở bao giờ thế/ Mà sớm hôm nay đỏ rực trời/ Thấm thoắt đã hai mùa đấy nhỉ/ Còn mùa sau nữa lại chia phôi" (Gửi phượng), "Tim ơi hãy chậm già nua/ Cho ta yêu trọn mấy mùa tóc sương/ Mùa thu sau trước cổng trường/ Có ông già đứng bên đường ngắm trông" (Tựu trường).

Nhà thơ chuyện trò với cây phượng mà cũng là chuyện trò với lòng mình, nhắn nhủ tâm tình với bao học trò thương mến: "Có người thầy tóc bạc phơ/ Đêm nay ngồi viết bài thơ phượng già" (Cây phượng già). Có lẽ điều làm người thầy giáo/nhà thơ ấy buồn nhất, lo nhất, đó là sợ các học trò một ngày nào đó không còn nhớ đến mình. Ông tự ví mình như biển còn các học trò như muôn con sóng nối nhau về phía khơi xa.

Trong hàng trăm ngàn con sóng ấy, liệu con sóng nào còn quay lại, chỉ biển khơi mãi nơi đây hướng về bao con sóng muôn trùng: "Cho đến một ngày, biển không còn sóng nữa/ Biển sẽ buồn lặng im/ Biển tưởng như mình chỉ từng mơ thấy sóng/Những con sóng xa vời trong nhớ trong quên" (Biển và sóng).

Cả một đời vừa dạy học vừa làm thơ, thầy Đặng Hiển là người "kỹ sư tâm hồn" đã gieo bao hạt giống đẹp cho đời. Biết bao học trò đã là những người thành đạt, hành trang bước vào đời luôn có những bài thơ, những giờ giảng văn không thể quên của tuổi hoa niên. Xin cảm ơn thầy đã luôn truyền cho chúng em ngọn lửa của niềm lạc quan yêu đời, của tình yêu cuộc sống ngay từ những thời khắc yếu lòng nhất, đúng như một bài thơ mà thầy đã viết: "Đời tôi năm tháng đã từng/ Vẽ cho người lá cuối cùng không rơi/ Bây giờ lại đến lượt tôi/ Vẽ cho mình lá chưa rơi cuối cùng" (Chiếc lá cuối cùng).

Có phải tất cả mỗi chúng ta rồi cũng như chiếc lá bay trong chiều, tìm về một nơi an nghỉ, nhưng sắc màu của chiếc lá ấy vẫn còn in mãi trong lòng những người đang sống, thầy ơi!

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.