Nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ: Một đời tận hiến cho điện ảnh

Nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ - "cây đại thụ" của nền Điện ảnh Việt Nam vừa rời xa cõi tạm ở tuổi 90. Tác giả kịch bản của những bộ phim nổi tiếng như "Vĩ tuyến 17 ngày và đêm", "Em bé Hà Nội", "Mối tình đầu", "Thành phố lúc rạng đông"... Ra đi nhưng gia tài điện ảnh đồ sộ cùng tấm gương lao động miệt mài, nghiêm cẩn trọn đời của ông thực sự là niềm tự hào, không chỉ của những người làm điện ảnh.

Nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ sinh năm 1932 tại xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Cụ thân sinh ra ông là nhà nho Hoàng Tích Phụng, từng làm Tri phủ Huấn học và tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. Quê hương Kinh Bắc giàu truyền thống văn hóa cùng nền tảng gia đình với người cha nghiêm khắc và mang tư duy tiến bộ, ham học hỏi đã góp phần hun đúc nên một gia đình nức tiếng nhiều văn sĩ, trí thức.

Người anh cả của ông là nhà báo Hoàng Tích Chu, thuộc thế hệ trí thức hàng đầu trong việc cách tân báo chí Việt Nam đầu thế kỷ XX. Người anh thứ 2 là họa sĩ Hoàng Tích Chù, một bậc thầy về tranh sơn mài. Người anh thứ ba là nhà viết kịch Hoàng Tích Linh, một trong những nhà văn dự Đại hội thành lập Hội Nhà văn Việt Nam năm 1957 và tham gia Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa I. Ông còn có 1 người anh là bác sĩ cao cấp Hoàng Tích Tộ.

Điều đặc biệt trong gia đình này là cả 2 anh em (nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ và họa sĩ Hoàng Tích Chù) đều được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật cho những đóng góp to lớn ở lĩnh vực này.

nhà biên kịch hoàng tích chỉ được nhà nước tặng giải thưởng hồ chí minh về văn học nghệ thuật cho tác phẩm trên vĩ tuyến 17.png -0
Nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật cho cụm tác phẩm gồm 6 kịch bản phim truyện và phim tài liệu.

Cậu bé Hoàng Tích Chỉ có một tuổi thơ cơ cực, vất vả khi sớm phải chịu cảnh mồ côi cha, mẹ. Nhưng có lẽ, chính nghịch cảnh đó đã rèn luyện bản lĩnh tự lập, ý chí vươn lên trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Năm 1945, khi mới 13 tuổi, Hoàng Tích Chỉ đã sớm giác ngộ cách mạng, trở thành trinh sát ở Ty Liêm phóng (Sở Công an) Bắc Giang. Mười sáu tuổi, Hoàng Tích Chỉ trở thành Đội trưởng Đội Điệp báo.

Như sau này ông chia sẻ, bản thân đã được rèn giũa tính kỷ luật, sự khiêm nhường cũng như được nhận sự ấm áp trong cái nôi tình nghĩa của đồng đội, đồng bào từ những tháng ngày công tác đầu tiên ấy. Những đức tính, suy nghĩ đó là phương châm để ông làm việc, ứng xử trong mọi công việc, ở bất kỳ cương vị nào sau này. Chính vì thế, những người từng có điều kiện làm việc, tiếp xúc với nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ đều có chung nhận định ông là người khiêm nhường, tận tâm, nhiệt huyết với công việc và luôn giúp đỡ, động viên với thế hệ sau này.

Hòa bình lập lại năm 1954, ông chuyển về làm Trưởng phòng Văn nghệ của Ty Văn hóa tỉnh Bắc Giang và đến năm 1961, ông trở thành học viên lớp Biên kịch khóa đầu tiên của Trường Điện ảnh Việt Nam. Đây được coi là bước ngoặt lớn trong cuộc đời ông. Tốt nghiệp, ông về làm Trưởng phòng Biên kịch rồi Xưởng trưởng Xưởng Phim I của Xí nghiệp Phim truyện Việt Nam (sau là Hãng Phim truyện Việt Nam). Bắt đầu cho một hành trình dài, trọn vẹn đam mê và đầy thành tựu với điện ảnh.

Có thể nói, nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ là tên tuổi lẫy lừng của Điện ảnh Việt Nam. Sự nghiệp của ông ghi dấu bằng những bộ phim kinh điển, đầy niềm tự hào với nhiều giải thưởng trong và ngoài nước.

Tiêu biểu trong số đó như "Biển gọi" (Bông sen Bạc LHP Việt Nam lần thứ I, 1970), "Vĩ tuyến 17 ngày và đêm" (Bông sen bạc LHP Việt Nam lần thứ II, 1973), "Em bé Hà Nội" (Bông sen Vàng LHP Việt Nam lần thứ III, 1975, Giải đặc biệt của BGK tại LHP quốc tế Matxcova - 1975), "Mắt bão" (1972), "Tọa độ chết" (1985), "Mối tình đầu" (Bông sen bạc LHP Việt Nam lần thứ V, 1980, Giải Chiếc thuyền Bạc LHP Hiện thực mới tại Ý - 1981), "Thành phố lúc rạng đông" (Giải Bồ câu vàng đặc biệt, LHP Leipzig - CHDC Đức), "SBC - Săn bắt cướp: Người đàn bà bị săn đuổi" (1990), "Bông hoa rừng Sác" (1995)…

Ông là tác giả viết kịch bản phim đầu tiên và duy nhất cho đến nay của Việt Nam được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt V (năm 2012) với cụm công trình gồm 6 kịch bản phim truyện và phim tài liệu: "Trên vĩ tuyến 17", "Biển gọi", "Vĩ tuyến 17 ngày và đêm", "Em bé Hà Nội", "Mối tình đầu" và "Thành phố lúc rạng đông". Cho đến thời điểm này, chưa có tác giả kịch bản nào vượt qua được ông về khối lượng tác phẩm đồ sộ, kết quả của sức sáng tạo mãnh liệt, đáng nể phục.

Những bộ phim mà ông chắp bút viết kịch bản nhận được sự yêu mến của nhiều thế hệ khán giả bởi luôn đầy ắp chất liệu hiện thực. Thậm chí, có những bộ phim mang đậm tính lịch sử, trở thành đại diện tiêu biểu phản ánh đời sống nhân dân trong một giai đoạn lịch sử cụ thể. Những trang kịch bản của ông đều là kết quả của những chuyến đi lăn lộn lấy tài liệu, ngay cả trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh khốc liệt và gian khổ. Nhiều nhân vật trong tác phẩm của ông được xây dựng từ những nguyên mẫu ở những nơi ông đã đến, quan sát và trải nghiệm, trò chuyện.

Giờ đây, những người làm điện ảnh vẫn nhắc nhớ câu chuyện ông và đạo diễn, NSND Hải Ninh đã 5 năm liền đạp xe đi về không biết bao lần đến "chảo lửa" Vĩnh Linh để lấy tư liệu viết kịch bản, làm phim "Vĩ tuyến 17 ngày và đêm". Cứ đêm đi, ngày nghỉ để tránh bom. Khi giặc Mỹ ném bom Hà Nội năm 1972, ông sơ tán các con về Chùa Thầy còn mình cùng vợ bám trụ thành phố. Kịch bản "Em bé Hà Nội" ra đời ngay giữa những ngày Hà Nội oằn mình trong trận chiến lịch sử ấy. Hay đúng ngày 30/4/1975, nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ cùng các nghệ sĩ Xưởng Phim truyện Việt Nam theo đoàn quân giải phóng có mặt tại Dinh Độc Lập để gấp rút hoàn thành bộ phim tài liệu "Thành phố lúc rạng đông".

Những ngày này, trên nhiều trang báo có hình ảnh trang bản thảo kịch bản phim "Vĩ tuyến 17 ngày và đêm" do ông viết tay. Những trang giấy đã ố vàng màu thời gian nhưng là minh chứng cho sự lao động nghiêm cẩn, hết mình.

Với kịch bản phim "Vĩ tuyến 17 ngày và đêm", sau khi viết xong, ông còn vào giới tuyến đọc và nghe phản hồi từ các lực lượng: bộ đội, vũ trang để hoàn thiện kịch bản. Đi để quan sát, ghi chép những câu chuyện cuộc đời rồi cô đọng, súc tích thành những câu chuyện phim, nhân vật điển hình. Những nhân vật của ông thấm đẫm chất đời mà lại mang tính biểu tượng rất cao. Một chị Dịu đằm thắm, dịu hiền nhưng mạnh mẽ trước kẻ thù trong "Vĩ tuyến 17 ngày và đêm". Cô bé Hà Nội trong trẻo, hồn nhiên giữa hiện thực khốc liệt của chiến tranh...

nsnd-tra-giang-va-nguyen-mau-nhan-vat-diu-trong-39vi-tuyen-17-ngay-va-dem39-4-1525000235-width665height833.jpg -0
Poster phim “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm”.

Nhắc tới sự nghiệp của biên kịch Hoàng Tích Chỉ là nhắc "cặp bài trùng" biên kịch Hoàng Tích Chỉ - đạo diễn Hải Ninh. Hai cây đại thụ của điện ảnh Việt đã cùng nhau làm nên những tác phẩm xuất sắc cho nền điện ảnh nước nhà. Mặc dù, theo đạo diễn, NSND Thanh Vân, con trai của đạo diễn, NSND Hải Ninh thì hai người tính cách khác nhau. Nếu như đạo diễn Hải Ninh sôi nổi, hay nói thì biên kịch Hoàng Tích Chỉ rủ rỉ, trầm tính.

Sinh thời, nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ cũng ví khoảng thời gian cộng tác làm việc giữa ông và đạo diễn Hải Ninh như một "cuộc hôn nhân" trong công việc: "Chúng tôi rất khác nhau nhưng lại hợp nhau. Chúng tôi hiểu ý nhau như đôi bạn, mình xúc động trước điều gì thì bạn cũng vậy". Nhưng có lẽ, mối duyên của hai nghệ sĩ tài năng ấy, ngoài sự tương đồng về tri thức và cảm xúc là cùng tình yêu lớn lao dành cho điện ảnh. Những bộ phim được thực hiện bởi bộ đôi Hoàng Tích Chỉ - Hải Ninh luôn phản ánh kịp thời, chân thực những sự kiện lớn và chứa đựng tính điển hình của tâm hồn và khí chất con người Việt Nam trong những giai đoạn lịch sử cụ thể.

Cả cuộc đời nhà viết kịch Hoàng Tích Chỉ luôn đắm đuối với nghệ thuật thứ 7 dù ở vai trò tác giả kịch bản hay sau này là Giám đốc đầu tiên của Hãng Phim truyện I. Đầu những năm 90 của thế kỷ trước, ông là một trong những nghệ sĩ, nhà quản lý đi đầu với tư duy nhập cuộc thị trường điện ảnh rất nhanh.

Lịch sử Hãng Phim ghi nhận ông là một người sẵn sàng dấn thân vào những thử thách mới. Kết quả của tâm huyết ấy là những bộ phim tiêu biểu như "Người đàn bà bị săn đuổi", "Dòng sông hoa trắng", "Săn bắt cướp", "Bông hoa rừng Sác"... Đó là những bộ phim nghệ thuật nhưng có sức hút khán giả rất lớn. Điều hạnh phúc mà nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ để lại cho cuộc đời ngoài gia tài điện ảnh đồ sộ là sự kính yêu của đồng nghiệp và gia đình ấm êm với những người con luôn ngưỡng mộ, không ngừng học tập tấm gương về sự lao động nghệ thuật nghiêm túc, bền bỉ của cha mình.

Tuấn Phong

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.