Nguyễn Xuân Khánh đội gạo lên chùa…

Lâu nay tôi muốn lập một danh sách những nhà văn lực lưỡng nhất của văn học Việt đương đại. Những cái tên tôi nghĩ đến đầu tiên thường là Nguyễn Xuân Khánh và Ma Văn Kháng, hai bậc lão thành của văn học Việt với những số phận khá khác nhau.

Lần đầu tiên tôi gặp Nguyễn Xuân Khánh là khi tôi cùng một người bạn văn đến thăm ở ngôi nhà trong ngõ 281 đường Trần Khát Chân. Đó là một ngôi nhà khá nhỏ và chật chội, nhà văn tiếp những kẻ hậu sinh trong một căn buồng nhờ nhờ tối. Tôi thấy bóng Nguyễn Xuân Khánh mờ mờ và giọng ông rất nhỏ nhẹ. Tôi rất bất ngờ khi biết ông từng là đồng nghiệp của chúng tôi ở tạp chí Văn nghệ quân đội.

Thậm chí Nguyễn Xuân Khánh từng là người đạt giải cao và rất sớm trong cuộc thi đầu tiên của Văn nghệ quân đội năm 1959 với truyện ngắn “Một đêm”. Khi tôi nhắc đến Văn nghệ quân đội Nguyễn Xuân Khánh lặng đi một chút, có lẽ ông đang suy tưởng và nhớ lại những ngày đã qua. Những kỉ niệm ngọt ngào và cả những cay đắng đời văn của ông đang trở lại…

Tôi hỏi ông một câu về chốn cũ nhưng ông không trả lời, tôi biết sự không trả lời ấy cũng là câu trả lời. Ông lấy ra những bản thảo viết tay của mình trao cho người bạn của tôi, anh nhận lấy và bảo sẽ đánh máy mang in. Tôi tranh thủ quan sát bản thảo của ông, Nguyễn Xuân Khánh viết bằng bút bi, chữ của ông khá rõ và dễ đọc.

Nguyễn Xuân Khánh luôn viết tay, tôi nghĩ những người cùng thế hệ ông quen làm thế. Những biên tập viên làm sách của ông kể rằng họ đã từng đề nghị ông lược bớt đi một ít phần vì bản thảo quá dài. Nguyễn Xuân Khánh có lẽ là một ngoại lệ rất khác biệt trong làng văn Việt. Trong khi các nhà văn có xu hướng viết ngắn thì Nguyễn Xuân Khánh từ khi trở lại với văn chương, cuốn nào của ông cũng dầy cộm.

Bắt đầu từ “Hồ Quý Ly” đã trông thấy một sự vâm váp đáng kể, đến “Mẫu thượng ngàn” và “Đội gạo lên chùa” thì công lực của ông càng mạnh. Mỗi cuốn sách gần nghìn trang khổ lớn. Nếu so sánh những  tiểu thuyết ở giai đoạn trước của ông như “Miền hoang tưởng”, “Ngõ nghèo” thì đoạn sau sách cũng dầy dặn hơn nhiều.

Tôi muốn lí giải về sự khác biệt ngắn dài của Nguyễn Xuân Khánh. Lúc còn trẻ ông viết ngắn và khi có tuổi ông viết dài. Đây là quy luật của chiếc lò xo bị nén quá lâu. Nguyễn Xuân Khánh đã có một thời gian dài không viết, sự dồn nén mạnh khi bật ra sẽ có công suất cực lớn. Ông viết mau vì sợ không kịp nữa, viết để bù lại sự mất mát khi trước. Hiện tượng này khá phổ biến trong văn chương Việt những năm gần đây khi những cây bút ngoài năm mươi mới bắt đầu khởi bút, họ viết rất nhanh và khoẻ, ví dụ như Nguyễn Trí, Trần Thanh Cảnh...

Từ sau cái buổi gặp Nguyễn Xuân Khánh ở căn nhà trên phố Trần Khát Chân ấy tôi cứ vẩn vơ mãi. Khi trước tôi cứ nghĩ rằng những nhà văn lớn sẽ rất khụng khiệng, ông kễnh. Nhưng không, đa số họ giản dị và chân thành.

Nguyễn Xuân Khánh nhã nhặn và lịch lãm, kể cả từng trải qua rất nhiều truân chuyên với chữ nghĩa, ông vẫn không cay nghiệt với nghề. Ông giản dị và bình thản. Khuôn mặt ông sáng và sang trọng như một trí thức quý tộc dù ông rất nghèo và trong những năm khốn khó, ông đã từng đi chăn lợn, làm bảo vệ, làm thợ may, thậm chí có lúc đi bán máu với những người cùng thời với mình như Dương Tường, Lê Bầu, Mạc Lân…

Nhìn khuôn mặt đậm vẻ trí thức của Nguyễn Xuân Khánh tôi lại nhớ những nhân vật chính trong các tác phẩm của ông, họ cơ bản là những trí thức đau đáu với đời. Trong “Miền hoang tưởng” là Tư, Ngọ; trong “Chuyện ngõ nghèo” là Hoàng, Tám; trong “Hồ Quý Ly” là Hồ Nguyên Trừng, Sử Văn Hoa... Những nhân vật đó ông luôn dành những tâm huyết và trân trọng, có lẽ họ phản ảnh một phần con người ông.

Trong những tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, giai đoạn trước tôi thích nhất “Miền hoang tưởng”, giai đoạn sau tôi thích “Hồ Quý Ly”. Thậm chí theo cảm quan cá nhân, tôi coi “Miền hoang tưởng” là cuốn sách hay nhất trong toàn bộ đời văn Nguyễn Xuân Khánh vì khi ấy ông phiêu lãng với sáng tác, chưa hề biết sợ và sẵn sàng đi trên con đường chênh vênh giữa nghệ thuật và đời sống. Cũng trong một bảng xếp hạng mang tính cá nhân, tôi xếp “Miền hoang tưởng” là một trong mười cuốn tiểu thuyết hay của văn chương Việt thế kỉ XX.

Về tiểu thuyết lịch sử, Nguyễn Xuân Khánh cũng là một nhân vật mang đến những dấu ấn lớn. Theo quan sát của tôi, những cuốn tiểu thuyết lịch sử được coi là hay nhất của văn chương nước Việt từ sau “Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô gia văn phái thì có thể kể đến “Tiêu Sơn tráng sĩ” của Khái Hưng và bẵng đi một thời gian dài, tiểu thuyết lịch sử không có mấy cuốn ghi được những cú nặng kí.

“Hồ Quý Ly” của Nguyễn Xuân Khánh là một trong những cuốn rất đáng kể của dòng tiểu thuyết lịch sử giai đoạn gần đây. Trong cuốn tiểu thuyết cùng tên, Nguyễn Xuân Khánh đã chiêu tuyết cho Hồ Quý Ly và có những kiến giải mới về vai trò người trí thức trong xã hội phong kiến. Cũng trong “Hồ Quý Ly”, Nguyễn Xuân Khánh đã giữ một thái độ khách quan, trung lập và tiết chế nhiều hơn so với hai cuốn sau này là “Mẫu thượng ngàn” và “Đội gạo lên chùa”.

Hai tác phẩm của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh.
Hai tác phẩm của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh.

 Bẵng đi gần mười năm rồi tôi lại mới đến thăm nhà văn lão thành Nguyễn Xuân Khánh. Hôm ấy Hà Nội rất nóng và ngột ngạt và vừa trải qua mùa đại dịch viêm phổi Covid. Chúng tôi đến thăm ông ở ngôi nhà số 35 phố Trần Cung. Nguyễn Xuân Khánh đã không còn ở ngôi nhà Trần Khát Chân nữa. Ông ở với người con trai thứ hai là anh Tư và vợ anh, chị Cúc.

Anh Tư dẫn chúng tôi lên thăm ông. Tôi không ngờ khi ấy Nguyễn Xuân Khánh đã khá yếu. Những ngày nóng nực của mùa hè Hà Nội đã tăng thêm sự mệt mỏi của nhà văn đã gần chín mươi tuổi. Hồ sơ Nguyễn Xuân Khánh ghi ông sinh năm 1933 nhưng ông bảo ông bằng tuổi với Dương Tường, nghĩa là sinh 1932.

Hôm chúng tôi đến thăm, nhà văn của “Đội gạo lên chùa” chỉ nói được rất ít. Ông nghe rõ mọi câu chuyện, minh mẫn nhưng hiếm lắm mới buông được một lời. Ông quá mệt và khi ngồi luôn cần một chỗ dựa. Chúng tôi nói chuyện về văn chương, tôi biết Nguyễn Xuân Khánh vẫn lắng nghe nhưng ông hầu như không có một biểu hiện gì cả. Anh Tư và chị Cúc giúp trả lời những câu hỏi liên quan. Một người bạn của tôi rất quan tâm là liệu ông có viết hồi kí, nhất là giai đoạn ông ngừng bút. Theo chị, nếu khi ấy Nguyễn Xuân Khánh viết hồi kí thì sẽ có một tài liệu rất hữu ích.

Không ai trả lời được câu hỏi ấy, nhà văn không nói và những người con của ông cũng không biết. Trong bốn người con của ông, không ai theo nghiệp viết lách nhưng anh Tư bảo rằng, còn một tủ sách và tư liệu rất lớn của ông ở ngôi nhà phố Trần Khát Chân chưa kiểm kê hoàn toàn. Chúng tôi cũng biết một phần sáng tác chưa công bố của Nguyễn Xuân Khánh đã được nhà xuất bản Phụ nữ, nơi ông đã in cả ba cuốn tiểu thuyết sau này, đang làm bản thảo và sắp công bố.

Anh Tư lại cho chúng tôi xem những bản thảo viết tay của bố mình mà anh đang lưu giữ. Tôi tiếp tục quan sát chữ viết của Nguyễn Xuân Khánh, ông viết mực xanh, bản thảo có những gạch xóa tương đối, với những tác phẩm đã hoàn thành, ông đều ghi rõ thời điểm sáng tác, ví dụ 1962, 1965...

Tôi mang một món quà nhỏ đến cho ông, đó là quyển tạp chí Văn nghệ quân đội số mới nhất. Đến lúc này thì tôi mới thấy gương mặt Nguyễn Xuân Khánh biến chuyển, đôi mắt ông tinh anh hơn. Ông cầm quyển tạp chí, nhìn rất kĩ và giở vài trang. Trong cả cuộc đến thăm của chúng tôi, đến bây giờ tôi mới thấy ông có hồn thực sự. Ông nhìn cuốn tạp chí và nghĩ gì? Lòng tôi bỗng nhói lên.

Nguyễn Xuân Khánh là một trong những người đồng nghiệp sớm nhất của  chúng tôi ở Văn nghệ quân đội. Ông đã ghi được ít nhiều dấu ấn ở đó tuy thời gian ngắn ngủi và rời đi nơi khác với những nỗi cay cực của nghề văn và cuộc đời. Tôi lại nhớ đến câu hỏi mười năm trước ở ngôi nhà phố Trần Khát Chân. Khi ấy, ông không nghe rõ hay ông không muốn trả lời?

Đến bây giờ tôi cũng không chắc chắn được điều ấy nhưng một khoảnh khắc bừng lên trong mắt ông khi cầm cuốn tạp chí nơi cũ đã cho tôi một chút ấm lòng. Tôi cầm tay ông và muốn cảm nhận dòng huyết mạch chảy của ông lúc ấy. Tôi muốn nói điều gì đó nhưng rồi im lặng...

Lúc tạm biệt ông, chị Cúc tiễn chúng tôi ra tận hè phố và kể thêm vài câu chuyện về bố chồng của mình với niềm kính trọng. Tôi nghĩ Nguyễn Xuân Khánh đã sống một đời người nhẫn nại, một đời văn kiên cường. Ông đã “đội gạo lên chùa” thời gian dài với niềm tin vô bờ bến. Theo quy luật của nhân sinh, ông xứng đáng được hưởng những trái ngọt từ những hạt mầm ông đã bao công chăm sóc, vun trồng…

Uông Triều

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.