Nguyễn Thụy Kha và"công mài chữ"...

Tôi vẫn là Nguyễn Thụy Kha âm thầm, lặng lẽ dâng hiến. Tôi vẫn còn nợ đời nhiều lắm. Mong rằng lần này, tôi có thêm động viên của bạn đọc để tiếp tục "mài chữ", mang thêm những dâng hiến mới cho đời...

Ngày 1-1-1990, tôi nhận quyết định phục viên với quân hàm Thiếu tá. Dân dã thường gọi việc này là "về vườn" hay "về một cục". "Một cục" mà tôi được hưởng lúc ấy là 2 triệu đồng. Tôi mang 1 triệu 500 ngàn đồng mua tặng vợ cái cassete Sony. Còn 500 ngàn đồng rủ mấy ông bạn thân nhậu một bữa. Vậy là trắng tay sau gần 20 năm quân ngũ.

Ông bạn Thanh Thảo ở Quảng Ngãi thấy thế, rủ tôi cùng làm tạp chí Sông Trà - một tạp chí văn nghệ của tỉnh Quảng Ngãi khi đó vừa tách từ tỉnh Nghĩa Bình. Tôi nhận lời làm đại diện cho tạp chí ở Hà Nội. Để chuẩn bị ra mắt số đầu tiên vào dịp kỷ niệm 100 năm sinh nhật Bác, có một việc tôi được ủy nhiệm là đến gặp bác Phạm Văn Đồng - một người con lớn của Quảng Ngãi, để xin bác lời chúc mừng sự ra mắt của tạp chí. Lúc này, phim tài liệu về bác Đồng mang tên "Người Mộ Đức" đã được hoàn thành vài năm trước.

Ca khúc tôi viết về bác trên lời thơ Thanh Thảo mang tên "Trong mắt má yêu thương" được sử dụng làm ca khúc của phim qua giọng ca Thanh Vinh. Bởi thế, khi gặp bác, tôi được bác rất trìu mến. Sau khi hỏi về công việc của tôi, bác có một lời khuyên mà tôi nhớ đời: "Cháu hãy tập trung sức lực và khả năng làm dân trí. Dân trí mà lên thì xã hội mới tiến bộ được".

Lời khuyên trở thành một gợi ý cho tôi khi tôi còn bơ vơ chưa biết làm gì để sống, để đóng góp. Cũng thời gian đó, tôi được đọc nhật ký của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng do chị Hiền - con gái đầu của nhà văn cho mượn. Một câu tự nhủ mình của ông, trở thành kỷ luật lao động của tôi: "Mỗi ngày hãy viết hai trang. Ngày nào có chuyện không viết được, thì ngày sau phải viết bù".

Lời khuyên của bác Phạm Văn Đồng hướng cho tôi mục tiêu viết. Còn lời trong nhật ký của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng thì trở thành phương châm hành động của tôi. Và cứ vậy cho đến nay, đã 27 năm trôi qua, nếu nhân lên trang viết của mình theo thời gian, thì tôi đã viết được ít nhất là gần 2 vạn trang viết. Đúng là "có công mài chữ… mỗi ngày 2 trang".

Trong số lượng trang viết đó, phần lớn là các bài báo văn hóa - văn nghệ mà khi tổ chức lại để in sách, chúng đã tạo nên cho tôi 3 đầu sách. Đầu sách ở dạng chân dung - phê bình - tiểu luận văn học được tôi đặt tên theo câu kết "Truyện Kiều" của đại thi hào Nguyễn Du là "Lời quê góp nhặt". Đầu sách ở dạng tổng kết Tân nhạc Việt Nam từ khi khai sinh đến nay được tôi tổ chức thành hai cuốn với tiêu đề "Thế kỷ âm nhạc Việt Nam - một thời đạn bom", "Thế kỷ âm nhạc Việt nam - một thời hòa bình" cũng lấy ý từ câu hát trong bài "Nhớ về Hà Nội" của nhạc sĩ Hoàng Hiệp "Một thời đạn bom - một thời hòa bình". Ba cuốn sách này như một cái nền để từ đó, tôi dựng nên những cuốn sách khác.

Để có thể khai thác mình ngoài thơ, nhạc, tôi chọn con đường đến với văn xuôi bằng thể loại "Tiểu thuyết chân dung", một thể loại "Tiểu thuyết nhưng phi hư cấu". Nhưng để viết thì phải có thời gian. Tôi quyết định chọn viết vào thời điểm sau Tết âm lịch mỗi năm.

Mùa xuân Nhâm Thân 1992, tôi bắt đầu khởi sự ý định này bằng việc viết tiểu thuyết chân dung về Văn Cao - tác giả Quốc ca Việt Nam - với cái tên "Văn Cao - người đi dọc biển". Nó được mở đầu bằng chương "Ngày xuân tái ngộ" kể lại chuyện Tố Hữu đến chúc tết Văn Cao tại tư gia mùa xuân năm Tân Mùi 1991 sau hơn 30 năm không gặp nhau. Tiểu thuyết gồm 21 chương. Mỗi chương lại được đề từ bằng thơ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tôi mang bản thảo đến nhà xuất bản Lao động. Nhà văn Ma Văn Kháng hồ hởi tiếp nhận và cho ấn hành ngay trong năm.

Được động viên, mùa xuân năm Quý Dậu 1993, tôi viết tiếp cuốn "Hàn Mặc Tử - thi sĩ đồng trinh". Cuốn này được Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành ngay. Mùa xuân Giáp Tuất, tôi lại viết tiếp cuốn "Nguyễn Văn Huyên - bản giao hưởng văn hóa".

Cuốn này đến hôm nay mới ấn hành. Sau "Hàn Mặc Tử - thi sĩ đồng trinh", Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành tiếp cuốn tự truyện "Một lần thơ trẻ" tôi đã viết từ năm 1982. Cuốn này sau đó được Nhà xuất bản Kim Đồng tái bản. Vào thời gian ấy, tôi đã gom những bài báo để tổ chức thành các cuốn sách: "Lời quê góp nhặt", "Nửa thế kỷ Tân nhạc", "Đời nghệ sĩ, tình nghệ sĩ" và ấn hành các tập thơ "Không mùa", "Mẹ cửa biển", "Lửa trắng và ớt xanh", "Thời máu xanh" nên tạm dừng viết tiểu thuyết chân dung.

Năm 1998, Viện Âm nhạc yêu cầu tôi viết tiểu thuyết chân dung về 5 nhạc sĩ được giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I là: Nguyễn Xuân Khoát, Lưu Hữu Phước, Đỗ Nhuận, Văn Cao và Hoàng Việt. Vậy là tôi lại quay về mạch viết tiểu thuyết chân dung. Văn Cao thì đã có sẵn. Tôi tập trung làm tài liệu và viết về Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận.

Cuối năm, tôi đi Cần Thơ để tìm hiểu về Lưu Hữu Phước và về Tiền Giang để tìm hiểu về Hoàng Việt. Cuối năm 1999, tôi bàn giao cả 5 tiểu thuyết chân dung cho Viện Âm nhạc. Năm 2000, tập sách gồm 5 tiểu thuyết chân dung mang tên "Những gương mặt âm nhạc thế kỷ" được hoàn thành và ấn hành nội bộ trong giới âm nhạc. Nhưng ngay từ cuối năm 1999, tôi lại được nhạc sĩ Nguyễn Thiện Đạo từ Paris về mời viết một tiểu thuyết chân dung về anh.

Những tài danh âm nhạc.
Những tài danh âm nhạc.

Qua làm việc, tôi quyết định sẽ viết tiểu thuyết này như một tiểu thuyết du ký sau khi cùng anh lang thang xuyên Việt. Nó sẽ gồm 7 ngày là 7 chương như 7 ngày của chúa, nhưng trong mỗi ngày lại có sự biến chuyển của 9 quẻ dịch, mỗi quẻ dịch lại có sự biến chuyển của 6 hào. Vậy 7 ngày đã tải được 63 quẻ dịch. Quẻ cuối cùng - quẻ 64 Hỏa thụy vị tế là phần vĩ thanh.

Cuốn "Nguyễn Thiện Đạo - nhạc sĩ bị giời đày" đã được Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành 2003. Sang năm 2004, tôi lại được Viện Âm nhạc yêu cầu viết tiếp về nhạc sĩ Huy Du. Vậy là cuốn "Huy Du - đời và nhạc" được hoàn thành và ấn hành. Trong thời gian này, tôi còn ghép các chân dung nhỏ mà mình viết vào cuốn "Bóng thế kỷ" được Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành năm 2002.

Cùng lúc là sự ra đời của trường ca "Gió Tây Nguyên" và "Năm tháng và chiều cao" cùng các tập thơ "Càn khôn ngàn tuổi", "Biệt trăm năm". Từ năm 2008, tôi tập trung vào viết hợp xướng và làm tuyển tập "1000 ca khúc Thăng Long - Hà Nội" nên không tiếp tục mạch tiểu thuyết chân dung nữa. Năm 2011, tôi làm cuốn "Nhà hát lớn vẻ đẹp tròn thế kỷ" và sau đó là ấn hành các tập thơ "Thuở binh nhì", "Lúa tím", "Trường ca ngắn và kịch thơ", cùng Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn ấn hành tập "Những gương mặt tài danh".

Suốt 27 năm qua, vừa viết báo kiếm sống, vừa cặm cụi viết tiểu thuyết chân dung và làm thơ, tôi không nghĩ có một ngày Nhà xuất bản Văn học và Công ty Vinabook yêu cầu được cùng một lúc tái bản cùng xuất bản mới 13 cuốn sách của tôi. Vậy là "công mài chữ" của tôi đã được ghi nhận. Cũng phải mất hơn một năm, công việc biên tập do biên tập viên Đặng Hà miệt mài làm việc mới hoàn thành, để rồi hôm nay 13 ấn phẩm được trình làng. Tất cả những khó khăn của cuộc đời làm nhà báo tự do mà tôi đã trải qua bỗng tan biến trong khoảnh khắc. Chỉ còn lại niềm vui được cống hiến tận cùng.

Con số 13 là con số xui của châu Âu, nhất là thứ 6 ngày 13. Nhưng với tôi nó lại như con số định mệnh. 13 tuổi, tôi đã viết ca khúc đầu tiên cho mùa hè tuổi thơ. Tôi học Đại học Thông tin và làm kỹ sư thông tin tròn 13 năm thì chuyển sang học Đại học Viết văn Nguyễn Du khóa I. Từ đó, năm 1982, tôi bắt đầu nghề viết chuyên nghiệp. Cũng sau khi sinh con gái Nguyễn Vương Phương An, 13 năm sau, tôi mới làm thêm được căn gác ở tầng tư để có điều kiện hơn sinh hoạt trong gia đình.

Có người hỏi, ông ra cùng lúc 13 cuốn sách của mình để làm gì? Có phải là muốn tạo ra một kỷ lục xuất bản? Thưa không. Ngàn lần không. Tôi chỉ muốn trong công việc "mài chữ" của mình suốt 27 năm qua, với những gì tôi đã gắng gỏi hết sức, xin gửi lại thế hệ sau một bộ tài liệu chân xác về những văn nghệ sĩ Việt Nam đã đau khổ, đã dâng hiến cho nền văn nghệ nước nhà đến hơi thở cuối cùng của họ. Nếu không, các thế hệ sẽ bị đứt đoạn trong việc nhìn nhận về nhau.

Bởi thế, bao năm qua bạn bè vẫn trách: "Ông chỉ là thằng áo gấm đi đêm. Ông còn để họ ăn gian ông đến bao giờ nữa?". Với ý nghĩ trên, tôi xin được một lần "Áo gấm đi ngày", những mong ai phê phán rằng tôi "làm reo về mình", thì hãy thật sự thông cảm - tôi vẫn là Nguyễn Thụy Kha âm thầm, lặng lẽ dâng hiến. Tôi vẫn còn nợ đời nhiều lắm. Mong rằng lần này, tôi có thêm động viên của bạn đọc để tiếp tục "mài chữ", mang thêm những dâng hiến mới cho đời.

Ngày 15-6-2017, tại Nhà hát Lớn Hà Nội sẽ diễn ra sự kiện nghệ thuật và ra mắt bộ sách 13 cuốn, gồm các chân dung, phê bình tiểu luận của nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình âm nhạc Nguyễn Thụy Kha với tên chung: "Những tài danh âm nhạc Việt Nam".

Trở về sau chiến tranh, 27 năm ròng rã cầm bút và hoạt động ở nhiều lĩnh vực văn nghệ, Nguyễn Thụy Kha đã dồn nén được hàng ngàn con chữ trong công trình 13 cuốn sách. Không chỉ là những chân dung riêng như Nguyễn Xuân Khoát, Văn Cao, Hoàng Việt… mà còn có nhiều chân dung khác in chung trong cuốn "Lời quê góp nhặt", không chỉ có chân dung mà còn có 3 cuốn lịch sử âm nhạc là "Thuở bình minh Tân nhạc", "Thế kỷ âm nhạc Việt Nam - Một thời đạn bom", "Thế kỷ âm nhạc Việt Nam - Một thời hòa bình"...v.v. 

Trước buổi lễ ra mắt, phóng viên Văn nghệ Công an đã có dịp ghi lại sự trải lòng của nhạc sĩ, nhà thơ Nguyễn Thụy Kha về công việc "mài chữ" của mình trong suốt 27 năm qua.
Bình Yên (ghi)

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.