Nguyễn Du bàn về sáng tác văn chương

Từ khi Đại thi hào Nguyễn Du qua đời đến đầu thế kỷ 21, chúng ta chỉ biết đến tác phẩm của cụ để lại gồm có 250 bài thơ chữ Hán cùng "Truyện Kiều" bất hủ và một số tác phẩm chữ Nôm. Tất cả đều ở dạng sáng tác. Cách đây vài chục năm, mới phát hiện ra tập “Hoa nguyên thi thảo”, là một tập bình thơ của Đại thi hào, gồm 33 lời bình thật ngắn gọn cho 33 bài thơ.

Tuy nhiên, khi chưa tiếp cận tập sách phê bình này, chỉ qua sáng tác, chúng ta cũng biết được một phần về sự đánh giá nhiều tác phẩm, đồng thời thấy rõ quan niệm sáng tác văn chương của Đại thi hào. Đó là nội dung bài viết này.

1. Sinh thời, Nguyễn Du yêu mến, phục tài nhiều nhà thơ cổ điển Trung Quốc, đặc biệt là Đỗ Phủ. Sự gặp gỡ giữa hai nhà thơ này, ngoài tài thơ ra, cùng có trái tim lớn đau nỗi đau những cuộc đời bất hạnh. Đánh giá nhà thơ Đỗ Phủ và nói lòng yêu mến của mình đối với nhà thơ này, Nguyễn Du viết:

Thiên cổ văn chương thiên cổ si (sư)
Bình sinh bội phục vị thường ly

Nghĩa là: "Văn chương ông lưu truyền thiên cổ, ông là bậc thầy muôn đời. Tôi bình sinh khâm phục ông, không lúc nào rời thơ ông". Nguyễn Du tôn Đỗ Phủ là người thầy muôn thuở, lấy thơ Đỗ Phủ làm sách gối đầu giường, bởi nhận thấy thơ Đỗ Phủ là thứ văn chương chói sáng về câu chữ và gần gũi với cuộc đời. Nhiều khi đọc thơ Đỗ Phủ, Nguyễn Du khóc một mình bởi thương người sống cách mình hơn ngàn năm trước.

untitled-4.jpg -0
Tượng Đại thi hào Nguyễn Du và bìa tác phẩm “Truyện Kiều”.

Với Thôi Hiệu, người có bài thơ "Hoàng Hạc lâu" nổi tiếng đến mức Lý Bạch đến nơi này không dám làm thơ nữa vì đã có thơ Thôi Hiệu rồi, thì Nguyễn Du đánh giá: "Thi thành thảo thụ giai thiên cổ", nghĩa là bài thơ Thôi Hiệu làm xong thì cỏ cây trở thành thiên cổ. Tôi nghĩ rằng, khó tìm được một câu nào đánh giá thơ cao hơn thế! Với Lý Bạch, Nguyễn Du không bình thơ mà nói về quan niệm sống của "ông tiên trong làng rượu" này, rằng "ông coi thường vinh hoa như dép rách". Đó là ba nhà thơ đời Đường mà Nguyễn Du yêu mến nhất. Còn một nhà thơ nữa sống cách Nguyễn Du trên hai ngàn năm. Đó là Khuất Nguyên thời Chiến quốc. Nguyễn Du viết:

Tông quốc tam niên bi phóng trục
Sở từ vạn cổ thiện văn chương

Nghĩa là, ông buồn rầu suốt ba năm bị đày xa Tổ quốc, tập "Ly tao" vẫn là áng văn muôn thuở tuyệt vời! Nguyễn Du đã dành ba bài thơ nói về Khuất Nguyên, trong đó có bài "Phản chiêu hồn" quá quen thuộc với đông đảo bạn đọc.

Còn Nguyễn Du nhận định như thế nào về các nhà thơ đương thời? Ông viết:

Tam Đường thiên tải hậu
Tịch mịch cửu vô văn

Nghĩa là, sau đời Đường nghìn năm, thi đàn vắng vẻ, đã lâu không nghe ai nổi tiếng hay thơ nữa! Nếu lời nhận xét này thốt ra từ miệng một nhà thơ bình thường, tôi tin rằng thời đó lắm kẻ đã nổi khùng lên, mắng người nói câu đó là chủ quan, là "mục hạ vô nhân", nhưng Nguyễn Du nói thì có cái lý của thiên tài từ đỉnh cao thi ca nhìn xuống.

2. Có một câu hỏi mà chúng ta đã bàn khá nhiều trên báo chí cũng như trong các cuộc hội thảo là làm thế nào để có thơ hay, như cố tìm bí quyết để các nhà thơ không cho ra đời những bài thơ dở. Vấn đề này, cách đây trên hai trăm năm Nguyễn Du đã từng "phát biểu" trong "Truyện Kiều":

Ngổn ngang trăm mối bên lòng
Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình.

Tôi nghĩ rằng, ở đây Nguyễn Du không chỉ nói chuyện Thúy Kiều ban ngày thăm mộ Đạm Tiên, lòng cảm thương, rồi đêm về làm thơ; mà là câu trả lời cho câu hỏi trên kia: Khi lòng ngổn ngang trăm mối là điều kiện cho những câu tuyệt diệu ra đời. Như vậy, thơ hay thường đến với những người có nỗi lòng đau đáu, trăn trở, cảm thương, dằn vặt... chứ thơ hay không thể có được với những ai sống đơn giản, dửng dưng, "trơ như đá, vững như đồng" trước nỗi đau và niềm vui của người khác.

Thực tế cũng đã kiểm chứng điều này khi chỉ ra rất nhiều nhà thơ có tác phẩm hay nhất của mình vào những năm đời sống khó khăn, nhiều dằn vặt suy nghĩ, còn khi đời sống khấm khá rồi, không phải lo nghĩ gì, thì "nhà càng lộng gió, thơ càng nhạt" (Xuân Sách) là không phải chuyện cá biệt.

Khi lòng ngổn ngang trăm mối thì dễ có thơ hay, nhưng chỉ có thơ hay về điều mình đang dằn vặt suy nghĩ, chứ thật khó làm thơ về đề tài khác. Khi Thúc Sinh mê mẩn Thúy Kiều, chàng có làm một bài thơ Đường luật, muốn Thúy Kiều họa lại, nhưng Thúy Kiều đã từ chối:

Lòng còn gửi áng mây hàng
Họa vần xin hãy chịu chàng hôm nay

Nghĩa là, lòng Thuý Kiều đang "ngổn ngang trăm mối" về quê hương, gia đình thì không dễ gì làm thơ thù tạc được.

Tuy nhiên, trong "Truyện Kiều", Nguyễn Du còn chỉ ra rằng, đối với những người có tài thơ, tâm hồn thơ thường trực, thì có thể làm thơ theo "đơn đặt hàng" của người khác, vẫn có được những bài thơ hay. Đó là trường hợp Thúy Kiều làm bài thơ tứ tuyệt vịnh bức tranh tùng theo yêu cầu của Kim Trọng, hay vịnh cái gông theo yêu cầu của Chánh án "mặt sắt đen sì" ngay trong phiên tòa. Thế mà hai bài thơ đặt hàng ấy được "khen tài nhả ngọc phun châu" hoặc "giá đáng Thịnh Đường"! Thế là Nguyễn Du vừa coi trọng hoàn cảnh ra đời của bài thơ, vừa đánh giá cao tài năng thiên bẩm của người làm thơ.

Chất lượng cuộc sống và chất lượng tác phẩm không đồng hành cùng nhau, thậm chí có khi còn ngược nhau. Nguyễn Du đã chỉ ra trường hợp Khuất Nguyên, một nhà thơ nước Sở, thế kỷ thứ IV trước Công nguyên. Khuất Nguyên giữ chức Tam lư đại phu (dưới Tể tướng). Lúc đầu Sở Hoài Vương tín nhiệm Khuất Nguyên, bằng lòng thực hiện chủ trương chính trị của ông, nhưng sau bị Thượng quan Ngân Thượng gièm pha, Sở Tương Vương không dùng Hiến lệnh của Khuất Nguyên, đày ông đi Giang Nam.

Ông đi qua hồ Động Đình, theo dòng sông Nguyên đến Thần Dương, Tư Phố rồi theo dòng sông Tương đến Mịch La và ngày 5 tháng 5 ông trẫm mình tại đó. Đối với Khuất Nguyên, việc Hiến lệnh của ông không được dùng là một tai họa, dẫn đến lưu đày và cái chết, nhưng đối với thơ cổ điển Trung Quốc, thì đó là điều may mắn, bởi nhờ cuộc lưu đày đó mà có được "Ly tao", một tuyệt tác. Nguyễn Du viết:

Trực giao Hiến lệnh hành thiên hạ
Hà hữu Ly tao kế Quốc phong?

Nghĩa là: Giá như Hiến lệnh ông thảo ra được ban hành khắp thiên hạ, thì thơ ca Trung Quốc làm gì có "Ly tao" kế tiếp "Kinh thi"? Qua trường hợp Khuất Nguyên, phải chăng, Nguyễn Du muốn nói rằng, có khi điều bất hạnh trong cuộc sống, lại là điều may mắn trong sáng tác thi ca?

Trong thơ chữ Hán, Nguyễn Du nói nhiều về quan hệ giữa tuổi tác và sáng tác thơ văn, hay nói chính xác hơn là ông nêu những hạn chế, nhược điểm trong sáng tác do tuổi tác mang lại. Nguyễn Du là người về hình thức già trước tuổi, đầu bạc ở tuổi ba mươi và là một nhà thơ có nhiều câu thơ nói về tóc bạc nhất trong tất cả các nhà thơ mà tôi được đọc. Chỉ sáu mươi bài thơ đầu tiên trong "Thanh Hiên thi tập", thì có đến 22 lần ông nhắc đến tóc bạc, lúc thì lô đầu, bạch đầu lúc thì bạch phát, tiêu tiêu bạch phát... Còn trong hai tập "Nam trung tạp ngâm" và "Bắc hành tạp lục", tóc bạc trù mật khắp nơi.

Có người nói rằng, tuổi càng cao, có từng trải và chiêm nghiệm, thơ viết càng sâu sắc, nhưng với Nguyễn Du thì ngược lại. Ông nói: "Lão khứ văn chương diệc tị nhân", nghĩa là, "già rồi văn vẻ cũng xa lánh người". Đồng hành với sự già đi của thân thể là sự chai lỳ của cảm xúc, thưa vắng sự sửng sốt trước con người và cảnh vật, lòng hiếm khi "ngổn ngang trăm mối", tất nhiên ít có điều kiện cho thơ ra đời. Khi đó nhà thơ phải sáng tác theo ý thức và trách nhiệm, chứ không phải do sự thúc giục của nội tâm.

Chất lượng của những tác phẩm đó sẽ như thế nào? Nguyễn Du nói: "Văn chương tàn tức nhược như ti", nghĩa là, khi sức mình đã tàn thì văn chương chỉ mong manh như sợi tơ, dễ đứt lắm! Không chỉ đối với các nhà thơ "thường thường bậc trung" mà ngay đối với Đại thi hào, thì cũng trở nên bất lực trong sáng tác khi tuổi già đến nơi. Nguyễn Du thừa nhận rằng:

Tráng niên ngã diệc vi tài giả
Bạch phát thu phong không tự ta

Nghĩa là, thuở trẻ ta cũng là kẻ tài ba, nay đầu đã bạc, chỉ còn than thở suông trước gió thu mà thôi! Vẫn làn gió thu ngàn năm ấy, với tuổi trẻ, có thể thành thơ, với tuổi già chỉ còn lời than thở suông, chẳng làm được gì. Hai câu thơ này tác giả viết trong chuyến đi sứ, vô hình trung góp phần phản bác lập luận của những ai bảo rằng Nguyễn Du sáng tác "Truyện Kiều" sau chuyến đi sứ, tức là từ năm 1814 đến 1820.

"Bắc hành tạp lục" là tập thơ cuối cùng của Nguyễn Du viết trong chuyến đi sứ nhà Thanh, gồm 132 bài mà bài cuối cùng viết cuối năm 1813. Thế là từ năm 1814 đến khi mất, năm 1820, Nguyễn Du không để lại một bài thơ chữ Hán nào, còn "Truyện Kiều", theo các nhà nghiên cứu có uy tín thì được sáng tác trước năm 1802. Phải chăng những năm cuối đời, văn chương đã xa lánh nhà thơ như ông đã nói, và ông không muốn sáng tác nữa, vì biết rằng, có viết ra thì "văn chương tuổi lão mảnh như tơ" là điều ông không bao giờ muốn đem đến cho bạn đọc. Nếu vậy, đó là thái độ tôn trọng người đọc của Đại thi hào.

Vương Trọng

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.