Người Xa Mạc giữ hồn “xa mạc"

Nhắc tới làn điệu “Xa Mạc”, người mê chèo cổ không ai không biết nhà sưu tập chèo cổ - Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Ngọc Lược. Bà con làng Xa Mạc, xã Liên Mạc, huyện Mê Linh người ta quen gọi lão nghệ sĩ chân quê ấy bằng cái danh xưng trân quý: “Ông Lược chèo cổ!”.

Một ngày đầu đông, tôi đến thăm người nghệ sĩ của làng với vóc vạc nhỏ nhắn. Ông Lược xúc động kể, nửa đầu thế kỷ 19, dù nằm bên trong con đê sông Hồng hùng vĩ, song làng Xa Mạc chỉ là trại ấp nghèo nàn cô độc giữa vô vàn những sông, rạch chằng chịt.

Để có thể giao lưu với người bên ngoài xóm ấp, đồng thời nhằm tạo ra một thứ điện năng để quá trình lao động mang lại hiệu quả hữu ích, người Xa Mạc dùng đến lời ca, theo lối hát chèo cổ. 

Làm phép truy nguyên ngôn ngữ, từ “Xa” ở đây mang nghĩa xa xôi, xa nhớ,… Còn chữ “Mạc” đồng nghĩa với: Làng! Gọi một cách nôm na,“Xa Mạc” là điệu chèo cổ “Nhớ làng”, do người dân Xa Mạc sáng tạo nên. 

Theo thời gian và không gian, một lúc nào đó, “Xa Mạc”, không còn là tài sản của riêng người làng Xa Mạc nữa mà trở thành một trong số hơn 100 làn điệu thuộc kho tàng chèo cổ nước Việt.

Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Ngọc Lược.
Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Ngọc Lược.

Thân thiện mời khách ly trà nóng, ông Lược rưng rưng nhớ lại: “Ngày tôi là cậu trẻ trâu lên 5 lên 7, sau giải phóng Điện Biên, cả miền Bắc hừng hực khí thế lao động xây dựng XHCN. Những bài ca lao động hăng say, yêu đời theo điệu chèo cổ “Xa Mạc” mà trước đó các thế hệ cha ông góp tích để lại cho cháu con được dân làng Xa Mạc tìm lại, đặt lời mới để phục vụ đời sống! Có những lúc đã tưởng điệu “Xa Mạc” sẽ chả bao giờ “chết”. Ai ngờ, có lúc điều đó xảy ra thật, không ai tin nổi!”. Bằng chất giọng man mác buồn, ông Lược đã giúp cho khách hình dung ra cái gọi là “chết” của điệu “Xa Mạc” ở ngay mảnh đất Xa Mạc nó như thế này:

Chuyện rằng, vào “Những năm bom Mỹ/ Trút trên mái nhà/ Những năm cây súng/ Theo người đi xa…” (“Hạt gạo làng ta” - Trần Đăng Khoa). Trong hoàn cảnh tay cày tay súng, cùng quân dân toàn miền Bắc dốc sức, dốc lòng để trở thành hậu phương vững chắc, tin cậy của tiền tuyến lớn miền Nam, do công việc bộn bề, căng thẳng lúc bấy giờ, thành ra không mấy người Xa Mạc có thời gian để tâm tới những câu chèo “Xa Mạc” cổ kính nữa. Cứ thế, công việc và hoàn cảnh sống khiến người Xa Mạc sao nhãng dần điệu chèo cổ “Xa Mạc”, dù chẳng ai cố ý.

Bấy giờ, dẫu cho ai đó “xa mặt cách lòng” với điệu “Xa Mạc”, riêng với chàng thanh niên Nguyễn Ngọc Lược lại không thể. Năm 1972, tình nguyện lên đường nhập ngũ và trở thành người lính thông tin, những câu “Xa Mạc” theo chân ông Lược tới nơi thao trường “quân lệnh như sơn”. Và sau đó, “Xa Mạc” cùng người nghệ sỹ của làng chưa một lần cầm bàn tay con gái vào với chiến trường miền Nam, còn hơn cả một người bạn tri âm tri kỷ.

Trong lúc hành quân vượt Trường Sơn, hay những đêm thanh vắng hiếm hoi khét mùi thuốc súng nơi mặt trận, chiến sĩ Lược lại hồn nhiên ngân lên những câu “Xa Mạc” giúp đồng đội vơi đi nỗi thương nhớ quê nhà. Mà đấy cũng chính là cái cớ để chàng chiến sỹ thông tin “nghiện” chèo từ thuở “chưa nứt mắt” khoe khéo với anh em đồng chí bốn phương thứ di sản văn hóa phi vật thể vô giá của làng Xa Mạc: điệu chèo “Xa Mạc”!

Năm 1978, sau mấy năm biền biệt nơi chiến trường, người lính Nguyễn Ngọc Lược xuất ngũ về làng. Nhẽ ra như người ta phải hỏi thăm sức khỏe cha mẹ, cùng anh em họ hàng mới là “phải phép” thì câu đầu tiên khi gặp người làng của ông Lược là: “Xa Mạc có còn ai hát “Xa Mạc” cổ nữa không?”. Trở về với mạch cảm xúc được khơi trong quá khứ, ông Lược trầm ngâm kể: “Thật thà với anh, năm ấy 27 tuổi, chân ướt chân ráo về tới làng, nghe người ta bảo chả biết “Xa Mạc” là cái thứ chết tiệt gì, tôi đau lắm, cứ như bị đứt từng khúc ruột!”. Nói xong câu ấy, ông Lược đưa tay dụi mắt.

Bất an, bấn loạn trước tình cảnh điệu “Xa Mạc” cổ có nguy cơ thất truyền vĩnh viễn, sau một đêm trắng, ông Lược nảy sinh ý tưởng táo bạo: chưa vội tính chuyện lập gia đình riêng, cho dù các bậc bề trên mong điều đó đỏ con mắt. Chàng cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Lược muốn dành thời gian toàn tâm toàn ý cho việc sưu tầm, gom nhặt cho bằng được những câu “Xa Mạc” - thứ “của để dành” vô giá mà cha ông bao đời để lại. 

Ý tưởng lúc đầu là thế, nhưng khi chính thức bắt tay vào việc sưu tầm những câu chèo cổ của điệu “Xa Mạc”, bản thân ông mới thật sự có cảm giác: trước mắt sừng sững một khối núi đá khổng lồ! Bởi lẽ, điệu chèo “Xa Mạc” xuất hiện trong dân gian, mang tính chất truyền khẩu. Ngay chính người Xa Mạc cũng chẳng thể hiểu rõ gốc tích bậc thủy tổ sáng tạo ra “Xa Mạc” là ai; vào thời kỳ nào?! 

Đã thế, trước ông Lược, ở Xa Mạc cũng như trong thiên hạ, chưa từng một ai làm cái việc sưu tầm một cách bài bản các câu chèo cổ “Xa Mạc”. Nhưng muôn vàn khó khăn trở ngại ấy không làm cho người cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Lược nản chí.

Vợ chồng Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Ngọc Lược trong lần tham gia Hội diễn các câu lạc bộ chèo truyền thống.
Vợ chồng Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Ngọc Lược trong lần tham gia Hội diễn các câu lạc bộ chèo truyền thống.

Khát vọng tìm giữ di sản mà tiên tổ để lại khiến ông Lược nghĩ ngay tới việc đầu tiên phải làm: tìm tới những bậc trưởng lão của làng với hy vọng khai thác được ở họ những câu chèo cổ “Xa Mạc”, trước khi chúng biến mất vĩnh viễn. Thế nhưng, muốn làm được điều đó, nhất định cứ phải là “có thực mới vực được đạo!”. Không hề so đo tính toán thiệt hơn, trong nhà có những gì có thể thành hàng hóa được, ông Lược mang ra bán cho bằng hết. “Không làm thế thì không thể có tiền bồi dưỡng “một tý gọi là” với những người mà mình gặp gỡ để được nghe người ta hát mà  ghi chép lại anh ạ!” - Ông Lược thủng thẳng giải thích - “Có những người chỉ nhớ được một, hai câu chèo “Xa Mạc” thôi, tôi cũng tìm cách gặp gỡ cho kỳ được!”.

Bỏ qua những thị phi, đơm đặt, đàm tiếu của người đời, sau hơn 20 năm âm thầm lặng lẽ, nhẫn nại với việc sưu tầm điệu chèo cổ “Xa Mạc” không khác gì con ong gom mật, vào một ngày nọ, ông Lược bỗng giật mình thảng thốt khi ngộ ra điều giản dị: nếu những câu, những bài “Xa Mạc” cổ chỉ là những con chữ “chết” trên những trang sổ ghi chép, rốt cuộc chúng cũng sẽ chẳng được người đời nhớ tới. Muốn “Xa Mạc” tồn tại, phát triển bền vững theo năm tháng, cách tốt nhất là học cách truyền khẩu của cha ông xưa.

Thấy đúng là làm, năm 1996,  ông Lược chủ động đứng ra vận động thành lập Câu lạc bộ chèo Xa Mạc. Để Câu lạc bộ chèo hoạt động được, lại thêm lần nữa, ông Lược mang của nả trong nhà ra bán để có kinh phí mua sắm thiết bị âm thanh, ánh sáng, đàn sáo, v.v… “Thấm thoắt thoi đưa, mới ngày nào mình còn là anh lính về làng rồi bắt đầu tò te với việc sưu tầm điệu “Xa Mạc”, ấy thế mà nay đã 42 năm trời rồi!” - Ông Lược trở nên xúc động đặc biệt -  “Thời gian của 42 năm đã giúp mình có cơ may hoàn tất gần như cơ bản điệu chèo cổ “Xa Mạc” sinh ra từ đất Xa Mạc!”. 

42 trời không quản gian lao vất vả; không hề tiếc trí lực và tiền bạc, nay ông Lược đã có trong tay hàng nghìn câu hát và 37 bài chèo cổ nguyên bản của điệu “Xa Mạc”. Tất cả đều được ông thể hiện một cách khoa học qua hàng nghìn trang bản thảo, lưu giữ thành nhiều bản. Không dừng lại với việc sưu tầm, hơn 20 năm qua, ông Lược còn đặt lời mới theo điệu “Xa Mạc” cho hàng trăm bài hát để Câu lạc bộ chèo Xa Mạc có thêm lưng vốn mà phát triển một cách căn cơ.

Thành quả mà ông Nguyễn Ngọc Lược có được sau 42 năm trời miệt mài  lao động với thái độ nghiêm túc nhất của một công dân sống có trách nhiệm không chỉ đơn giản để điệu chèo cổ “Xa Mạc” có cơ may tồn tại, phát triển bền vững. Mà hơn thế, cái cách ứng xử đầy cao quý với di sản văn hóa dân tộc của người Nghệ nhân Ưu tú ấy còn góp phần làm phong phú hơn, sâu sắc và lắng đọng hơn cái vỉa tầng trầm tích phù sa văn hiến của một Thăng Long - Hà Nội 1010 năm tuổi. Có lẽ vậy chăng?!

Lê Công Hội

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.