Người tiên phong sáng lập cải lương tuồng cổ

Sáng 22-9-2016, tin NSND Thanh Tòng qua đời ở tuổi 68, khiến giới cổ nhạc và công chúng ái mộ cải lương ngậm ngùi, xúc động. Ông là một nghệ sĩ đức độ và tài năng, là người có công lớn đưa bộ môn nghệ thuật cải lương tuồng cổ lên một tầm cao mới và có một vị thế xứng đáng trong làng nghệ thuật sân khấu truyền thống của dân tộc.

Vào nghề rất sớm

NSND Thanh Tòng sinh năm 1948 trong một gia tộc gắn bó nhiều đời với nghệ thuật hát bội và cải lương hồ quảng ở miền Nam. Ông nội là bầu Thắng; thân sinh là nghệ sĩ Minh Tơ, chú ruột là nghệ sĩ Khánh Hồng và nhạc sĩ Đức Phú; cô ruột là nghệ sĩ Huỳnh Mai (mẹ ruột của NSƯT Thành Lộc và NS Bạch Long); chị ruột là nghệ sĩ Xuân Yến và các em là các nghệ sĩ: Thanh Loan, Minh Tâm, Công Minh, Thanh Sơn.

Năm 3 tuổi, Nguyễn Thanh Tòng bắt đầu làm quen với ánh đèn sân khấu. Đầu tiên ông học hát bội, khi diễn cùng ông nội trong vở "Hoàng Phi Hổ quy Châu" và "San Hậu". Lên sân khấu được vài lần thì ông "ghiền" luôn và tiếp tục học ca diễn cải lương, học tân nhạc, học múa… với các cô chú nghệ sĩ cũng là bà con họ hàng trong thân tộc.

Năm 10 tuổi, ông chính thức theo nghề khi đóng thành công vai Lữ Bố ở đoàn Đồng ấu Minh Tơ do ba ông phụ trách với các nghệ sĩ Xuân Yến, Thành Phượng, Kim Hoàng (tức là nghệ sĩ Bo Bo Hoàng). Năm 11 tuổi, NSND Thanh Tòng được các ký giả ở Sài Gòn thời bấy giờ phong cho danh hiệu là "Thần đồng sân khấu".

Là con trai của nghệ sĩ Minh Tơ, Thanh Tòng được thân phụ tận tình dìu dắt, chỉ dạy ông hóa thân tất cả các loại vai tuồng trên sâu khấu, từ kép văn, kép võ, cho đến kép trung, kép nịnh, lão, độc, mùi; thậm chí, hướng dẫn cả đào văn, đào võ… Cha ông muốn con trai mình trở thành nghệ sĩ đa năng, toàn diện. Ông đã hóa thân thành công các nhân vật như Trịnh Ân, Bao Công, Quan Công lẫn các vai giả gái như Điêu Thuyền, Hồ Nguyệt Cô… trên sân khấu cải lương.

NSND Thanh Tòng.
NSND Thanh Tòng.

Ngoài học nghề từ người cha tài năng, NSND Thanh Tòng còn may mắn được các nghệ sĩ Khánh Hồng, Đức Phú, Thành Tôn, bà Năm Đồ Hoàng Bá, Hoàng Nuôi, Sáu Trọng, Xuân Liễu, cùng các nhạc sĩ Sáu Tửng, Năm Bửu, Năm Cơ, Văn Vĩ... hết lòng truyền dạy. Ông còn học cả cách dàn dựng, cách viết tuồng. Bất cứ công việc nào có liên quan đến sân khấu, ông đều học hỏi và am tường. Vừa tròn đôi mươi, ông đã dàn dựng thành công vở cải lương "Bao Công tra án Quách Hòe" trên sân khấu Khánh Hồng - Minh Tơ như một khởi nghiệp cho nghề đạo diễn sau này.

Vua cải lương hồ quảng

Những năm đầu của thập niên 1960 của thế kỷ trước, phim ảnh Đài Loan du nhập vào miền Nam - Việt Nam khá nhiều. Âm nhạc Đài Loan lúc bấy giờ như "bông hoa lạ" khiến cho nhiều người say mê, thích thú. NSND Thanh Tòng cùng người chú ruột của mình là cố nhạc sĩ Đức Phú (tác giả hai vở cải lương hồ quảng nổi tiếng: "Sa phu đi xứ", "Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài") đã biến thể nhạc Đài Loan thành những bản nhạc hồ quảng được sử dụng thay thế trong các vở cải lương tuồng Tàu.

Từ đó, tên gọi cải lương tuồng Tàu được đổi thành cải lương hồ quảng. Sự sáng tạo của NSND Thanh Tòng đã tạo một sức hút mạnh mẽ cho gánh hát Vĩnh Xuân - Khánh Hồng - Minh Tơ và ông được giới báo chí ở Sài Gòn lúc bấy giờ phong cho biệt danh là "Vua cải lương hồ quảng".  Đây là một dấu ấn, một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp nghệ thuật của người nghệ sĩ thuộc gia tộc Bầu Thắng - Minh Tơ.

Tiên phong sáng lập cải lương tuồng cổ

Dù khá nổi bật và thành công trên sân khấu cải lương hồ quảng thời hoàng kim, nhưng cột mốc nghệ thuật quan trọng của NSND Thanh Tòng có lẽ là giai đoạn sau ngày đất nước thống nhất. Thời điểm này, có sự tranh cãi và định kiến cho rằng cải lương hồ quảng của Việt Nam với rất nhiều tuồng Tàu là bắt chước kịch hát hồ quảng của Trung Quốc, là lai căng, không phải là nghệ thuật truyền thống mang tính dân tộc.

Nhằm khẳng định tính Việt, bằng vốn nghề vũ đạo hát bội và cải lương tuồng hồ quảng dồi dào của một người con nhà nòi có ba đời làm đoàn hát, Thanh Tòng đã tiên phong và tạo lập thành công cải lương tuồng cổ thay thế cho cải lương hồ quảng.

NSND Thanh Tòng từng tâm sự với báo giới: "Nếu như trước giải phóng, nhận thức của tôi hạn hẹp không xa hơn đời anh kép hát với những tích tuồng xưa cũ; thì sau giải phóng, được tham gia những lớp tập huấn về sáng tác và biểu diễn, được tiếp xúc với những bậc thầy của sân khấu cải lương có trình độ lý luận và tay nghề vững chắc, tôi đã tiếp thu và tạo nên một loại hình nghệ thuật khác hẳn so với phong cách của ba tôi trước đó".

Từ năm 20 tuổi, Thanh Tòng bắt đầu chuyển sang viết kịch bản, đưa tích truyện dân gian như Lưu Bình - Dương Lễ, Phạm Công - Cúc Hoa, Lục Vân Tiên vào nội dung các vở tuồng,  "nội hóa" thêm một phần nữa cho loại hình ca kịch mà ông đang gắn bó. Ông cũng chú tâm vào viết tuồng lịch sử Việt Nam, với các nhân vật như Triệu Thị Trinh, An Dương Vương, Nguyễn Huệ, Trần Quốc Toản, Tô Hiến Thành, Hồ Huấn Nghiệp, công chúa An Tư...

Quá trình sáng tác, ông hạn chế sử dụng nhạc Đài Loan, thay vào đó là những làn điệu mới. Đây là những làn điệu do cố nhạc sĩ Đức Phú (chú ruột của ông) sáng tác cho một số vở diễn trước kia, được nghệ sĩ lẫn khán giả ưa thích. Thanh Tòng viết thêm lời mới có nội dung phù hợp với hoàn cảnh, tính cách các nhân vật trong vở tuồng.

NSND Thanh Tòng trong một vai diễn.
NSND Thanh Tòng trong một vai diễn.

Khi trình diễn, được mọi người công nhận nó tương tự như các bài bản, làn điệu của nghệ thuật cải lương chính thống. Số ít nhạc Đài Loan khi sử dụng, ông cho ngân nga, luyến láy khác đi, mang âm hưởng nhạc Việt Nam nhiều hơn. Thanh Tòng còn bỏ luôn các động tác vũ đạo của Đài Loan, thay vào là những động tác múa rất riêng, không nặng nề như trước kia. Phục trang và hóa trang cũng thế.

Những kịch bản cải lương tiêu biểu của NSND Thanh Tòng cho đến nay vẫn còn được nhắc đến như là "Dưới cờ Tây Sơn", "Câu thơ yên ngựa", "Bão táp Nguyên phong", "Má hồng soi kiếm bạc", "Ngọn lửa Thăng Long", "Tô Hiến Thành xử án", "Bức ngôn đồ Đại Việt", "Tờ mật chỉ", "Hoàng hậu không ngôi"...  Từ các vở diễn của ông, cải lương tuồng cổ được khán giả đón nhận nhiệt tình không thua gì cải lương truyền thống.

Đào tạo nhiều thế hệ tài năng

Sau ánh đèn sân khấu, ông là một nhà quản lý giỏi, một tác giả -  đạo diễn có tài, là người thầy hết lòng tận tụy, một nhà sư phạm có phương pháp truyền nghề độc đáo. Tính từ năm 1968 đến nay, bốn thế hệ nghệ sĩ trưởng thành của nghệ thuật cải lương tuồng cổ đều có dấu ấn của NSND Thanh Tòng như: Hữu Lợi, Hữu Cảnh, Trường Sơn, Thanh Thế, Bửu Truyện,Thùy Dương, Cẩm Hương, Kim Duyên, Bạch Long, Quế Phương, Thanh Vân, Minh Hiếu, Kim Thủy, Tú Sương, Trinh Trinh, Quế Trân...

Trong đó, có nhiều nghệ sĩ thuộc hàng "ngôi sao" của sân khấu cải lương như: Ngọc Đáng, Tài Linh, Vũ Linh, Ngọc Huyền,Thanh Thanh Tâm, Thanh Hằng, Kim Tử Long, Thoại Mỹ... Mặc dù vậy, ông không bao giờ nghĩ mình là thầy, mà chỉ coi mình là người đi trước dìu dắt, hỗ trợ, giúp đỡ thế hệ đàn em, góp phẩn bảo lưu và gìn giữ di sản nghệ thuật độc đáo của dân tộc.

Dù biết NSND Thanh Tòng mắc trọng bệnh cách đây nhiều năm, thế nhưng, khi hay tin ông lìa xa cõi đời vẫn khiến cho người thân, bạn bè, đồng nghiệp, khán giả... ngậm ngùi xúc động.

NS Bạch Long (em cô cậu với NSND Thanh Tòng) chia sẻ: "Với anh Năm Thanh Tòng, tôi xem anh như là tấm gương, là người thầy đáng kính của mình. Tôi học được ở anh Năm nhiều thứ, từ nghề nghiệp đến cuộc sống. Anh là người có lòng tự trọng cao, rất chuẩn mực trong lối sống, không bao giờ vướng vào những thói hư tật xấu. Anh xứng đáng là một nghệ sĩ nhân dân".

NSƯT Phượng Loan chia sẻ tình cảm của mình cũng là tình cảm chung của đa phần giới nghệ sĩ đối với cố NSND Thanh Tòng: "Với chúng tôi, cậu Năm Thanh Tòng sống rất tình cảm, ông gắn bó với anh em nghệ sĩ như người nhà. Cho dù giờ đây, ông mãi mãi ra đi, nhưng tên tuổi và những cống hiến của ông vẫn gắn liền với những vai diễn nổi bật trong những kịch bản của cải lương tuồng cổ".

NSND Thanh Tòng là một nghệ sĩ lớn được mọi người kính trọng vì nhân cách, đạo đức lẫn tài năng. Cho dù trái tim ông đã ngưng đập, nhưng ắt hẳn người thân, đồng nghiệp và công chúng vẫn còn nhắc đến ông - "Vua cải lương hồ quảng", một tên tuổi lớn của ngành ca kịch sân khấu truyền thống của dân tộc, đã để lại dấu ấn khó phai trong đời sống văn hóa văn nghệ nước nhà trong hơn nửa thế kỷ.

Phạm Thái Bình

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.