Người giữ hồn ông Táo giữa đô thành

Nằm dưới chân cầu Rạch Cây (phường 16, quận 8, TP Hồ Chí Minh), cơ sở làm lò đất thủ công của ông Trần Văn Tiếp (Năm Tiếp) vẫn âm thầm hoạt động. Những tưởng sẽ không còn ai đủ tình yêu và tâm huyết theo đuổi cái nghề “lấm lem bùn đất” ấy nữa, vậy mà cơ sở làm lò Năm Tiếp vẫn bám trụ gần 40 năm nay và trở thành cơ sở cuối cùng tại thành phố mang tên Bác để làm nghề “giữ hồn” ông Táo.

Giữ lửa yêu nghề

Trước đây, dọc con kênh Phú Định có rất nhiều cơ sở làm lò đất và các đồ dùng bằng gốm, tạo thành xóm Lò Gốm nhộn nhịp, nổi tiếng khắp Sài Gòn. Địa bàn xóm Lò Gốm xưa khá rộng, gồm các làng Hòa Lục (quận 8), Phú Định - Phú Lâm (quận 6), Phú Giáo - Gò Cây Mai (quận 11) trải dài đôi bờ kênh Ruột Ngựa, kênh - rạch Lò Gốm. Dấu tích vật chất của xóm Lò Gốm ngày xưa nay chỉ còn lại di tích lò gốm Hưng Lợi thuộc làng Hòa Lục (phường 16, quận 8), nằm ven kênh Ruột Ngựa. Đối diện là làng Phú Định cách đây vài năm còn một số gia đình làm nghề “nặn ông lò” - bếp gốm, nhưng đến nay chỉ còn duy nhất cơ sở làm lò Năm Tiếp.

Những chiếc lò ông Táo hoàn chỉnh chuẩn bị được vận chuyển đến tay người dùng.
Những chiếc lò ông Táo hoàn chỉnh chuẩn bị được vận chuyển đến tay người dùng.

Xưa, khu này chủ yếu sản xuất lu chứa nước bằng chất liệu sành nâu, dáng thuôn vào đáy hoặc bầu tròn, kích thước khá lớn: thường được gọi là “lu 3 đôi” hay “lu 5 đôi”. Giai đoạn thứ hai, khoảng thế kỷ XIX, nơi đây có tên là khu lò Hưng Lợi. Sản phẩm chủ yếu của thời này là hũ, khạp, hộp, siêu, nồi có tay cầm,... Giai đoạn thứ 3 (nửa đầu thế kỷ XX) ở đây sản xuất gốm sứ gồm các loại chén, tô, đĩa, ly, cốc, muỗng, ấm trà, lư hương,...

Xã hội ngày càng hiện đại, lò đất không còn được sử dụng rộng rãi như trước, mà thay vào đó là bếp ga, bếp điện, bếp từ,... Đến nay chỉ còn duy nhất cơ sở làm lò của ông Năm Tiếp vẫn duy trì hoạt động. Cơ sở có diện tích gần 2.000m2, hơn 20 người làm bao gồm cả thợ chính và người làm công theo ngày phụ việc khuân vác, vận chuyển lò.

Gia đình ông Tiếp có truyền thống với nghề làm lò ông Táo. Ông kể rằng, từ khi còn là một đứa bé năm, sáu tuổi, ông thường ngồi nhìn cha với ông nội nặn lò ông Táo, rồi dần dần “mê” lúc nào không rõ. Lớn lên, sau khi đi bộ đội về, ông quyết định xây dựng xưởng làm lò của riêng ông trên mảnh đất ruộng của gia đình và duy trì nó cho đến nay.

Trộn đất là công đoạn quan trọng đầu tiên của quá trình làm “ông Táo”.
Trộn đất là công đoạn quan trọng đầu tiên của quá trình làm “ông Táo”.

Chính ngọn lửa yêu nghề của những người thợ nơi đây đã giúp cho cơ sở làm lò Năm Tiếp trụ vững với thời gian. Trước kia, nguồn nguyên liệu được lấy tại chỗ tại bến Phú Định, hoặc được thương lái vận chuyển từ Nhà Bè lên bán lại. Nhưng hiện nay ông Tiếp phải mua nguyên liệu như đất sét, trấu, xơ dừa,... ở các tỉnh miền Tây, rồi vận chuyển theo đường sông về, chi phí và thất thoát không nhỏ. Mỗi chiếc lò được bán với giá dao động từ 30.000 – 100.000 đồng tùy theo kích cỡ và thị trường. Đầu ra của sản phẩm chủ yếu là các tỉnh miền Đông và một số tỉnh Tây Nguyên như Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đắk Nông,... 

Ông Tiếp tâm sự: “Tôi chẳng bao giờ tính trung bình một cái lò bán ra lời lãi bao nhiêu cả. Bán xong thì tôi lấy tiền đó trả công cho thợ rồi mua nguyên liệu sản xuất tiếp, thiếu thì lấy tiền túi bù vào”.

Duy trì nghề nặn lò truyền thống trong thời buổi này đã khó, việc tạo ra một chiếc lò hoàn chỉnh cũng chẳng dễ dàng gì. Công việc này đòi hỏi rất cao sự kỳ công, tỉ mỉ của người thợ và hơn hết là phải có tâm với nghề. Một chiếc lò đến tay người tiêu dùng phải trải qua hơn 20 công đoạn từ nhào đất, tạo hình lò, nung, rồi gia cố... Mỗi công đoạn đều có cái khó riêng và phải kết hợp nhuần nhuyễn với nhau. Đầu tiên là khâu nhào đất. Trộn đất sét với tro, trấu theo tỉ lệ 7/3, nhào đến khi chúng hòa vào nhau, thành một khối đồng nhất mới thôi. “Việc trộn đất với tro, trấu không phải để giảm chi phí mà để cho lò không bị nứt trong quá trình nung và sử dụng, ngoài ra còn giúp cho lò có màu sắc đẹp hơn” - ông Tiếp chia sẻ.

Công đoạn tạo hình, người thợ sẽ rải một lớp cát mịn vào khuôn ép để hạn chế tình trạng đất dính chặt vào khuôn, sau đó mới cho từng phần đất sét vào, ấn và vuốt thật đều tay. Phần thân lò sau khi hoàn thành sẽ được mang ra ngoài trời, đặt lật úp xuống, lấy khuôn ra và phơi dưới ánh nắng mặt trời từ 2 - 3 ngày. Trong lúc phơi, người thợ phải chú ý đến việc tưới nước giữ ẩm cho lò, tránh tình trạng khô, nứt trong quá trình phơi. Thân lò sau khi phơi phải được mang vào và nắn thêm ba giá kê trên thành miệng lò. Công đoạn này đòi hỏi người thợ phải thật sự thạo nghề và khéo léo. Ông Thành (65 tuổi) – thợ làm lò lâu năm tại đây cho biết: “Nắn giá kê cho lò khó lắm, không khéo sẽ bị chênh, có người làm 10 năm trời vẫn chưa nắn được”.

Hoàn thiện, lò được mang đi phơi thêm 1 ngày nữa, sau đó, người thợ sẽ cắt gọt lại phần chân sao cho vuông, đẹp mắt, nhét xơ dừa vào trong lò, rồi mang đi nung. Việc nhét xơ dừa vào trong góp phần làm cho lò lên màu đều và tự nhiên hơn. Giữa cái nóng “đổ lửa” của Sài Gòn, người thợ vừa lau mồ hôi, vừa ngồi canh lửa xuyên suốt hàng mấy chục giờ đồng hồ, liên tục cho trấu vào để lửa cháy đều, ổn định. Sau hơn 30 tiếng “tôi luyện” trong lò nung, những chiếc lò ông Táo được mang ra mặc “áo giáp” bằng thiếc, nhôm bao quanh, sẽ giúp cho “ông Táo” không bị nứt, vỡ trong quá trình vận chuyển.

Mỏi mắt tìm truyền nhân

Cơ sở làm lò của ông Năm Tiếp đến nay chỉ còn khoảng 20 người, thợ chính chưa đến 10 người. Thợ lành nghề của xưởng đều trên 50 tuổi, có người gần 70, họ gắn bó với ông từ lúc mới thành lập cơ sở đến nay. Những người trẻ tuổi chỉ làm công theo ngày, phụ công việc khuân vác, vận chuyển lò,...

Nhu cầu sử dụng lò đất ở thời điểm hiện tại đã giảm nhiều so với trước, nhưng yêu cầu về chất lượng và mẫu mã lại không ngừng nâng cao. Làm thế nào để đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng luôn là niềm trăn trở của ông Năm Tiếp và những người thợ làm lò nơi đây. Vì vậy, họ luôn cố gắng nâng cao tay nghề, trau chuốt hơn trong từng công đoạn. Trước kia, một chiếc lò làm ra đã khó thì nay lại càng khó khăn hơn gấp bội.

Bà Quớt (52 tuổi) cẩn thận trông chừng lửa trong suốt quá trình nung lò.
Bà Quớt (52 tuổi) cẩn thận trông chừng lửa trong suốt quá trình nung lò.

Bà Quớt (52 tuổi) – người có kinh nghiệm hơn 30 năm trong nghề thở dài, chia sẻ: “Cái nghề này cực, tụi nhỏ không đứa nào muốn theo, sau này mấy người già chết chắc nghề này cũng mất”. “Thổi hồn” cho đất thành ''ông Táo'' là một nghề rất đỗi kỳ công, đòi hỏi người học phải thật sự say mê và tâm huyết. Ông Tiếp nói thêm: “Tôi rất muốn truyền nghề cho lớp trẻ nhưng khổ nỗi, không đứa nào muốn học. Vừa khó, vừa cần rất nhiều thời gian, có người làm hơn 5 năm vẫn còn là lính mới nên họ nản quá, không theo nữa”. Ngay cả những đứa con của ông Tiếp cũng không mấy mặn mà với cái nghề “chân lấm tay bùn” này.

Đã có lúc ông tưởng chừng như không trụ nổi với cái nghề ông yêu thương gắn bó. Phần vì nguồn nguyên liệu quá xa, phần vì thị trường ngày càng thu hẹp, thợ sành sỏi trong nghề chẳng còn lại bao nhiêu. Nhưng vì “cái duyên, cái nợ” với “ông Táo” chưa dứt, hơn nữa đây cũng là nghề truyền thống của quê hương, của cha ông, từng giúp ông vượt qua những lúc khó khăn trong cuộc sống nên ông quyết tâm gìn giữ đến ngày nay. “May mà đứa con của tôi nó tìm được cách quảng bá, không thì cơ sở này cũng sụp. Gần đây có nhiều khách du lịch tìm đến tham quan, chụp ảnh. Không những vậy, lò còn được xuất sang một số nước như Singapore, Thái Lan,...”, ông Tiếp hào hứng nói.

Dẫu biết “giữ hồn” ông Táo giữa dòng chảy xô bồ của quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa là việc không hề đơn giản, nhưng  ông Tiếp vẫn hi vọng: “Còn người dùng lò ông Táo thì tôi tin cái nghề này còn tồn tại”.

Nhã Chân

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.