Người đàn bà “thế chấp” bằng thơ

Sống và mưu sinh giữa đời sống phố thị, cho dù họa hoằn mới được trở về bản nhỏ cố hương của mình, nhưng Nông Thị Hưng vẫn luôn nhận mình là người của núi rừng. Trong một câu thơ, chị viết: “Áo váy mặc vẫn mang hồn núi/ Từ thuở ông bà chữ nghĩa đơm hoa”...

Những vạt đồi lô nhô bát úp. Con đường sỏi lượn quanh quanh. Những thửa ruộng chân đồi lúa chín vàng mùa gặt. Xa xa, núi dựng thành lũy. Miền đất Yên Thế vừa mộng mơ, vừa chứa chất tinh thần thượng võ. 

Với các cô gái của bản Trai Hạ, Đồng Vương, thì miền quê yên ả, no đủ dễ làm con người viên mãn với cuộc sống thường nhật. Cái niềm vui giản dị sau vụ cấy cày, mùa thu hoạch thêm cót thóc trong buồng, đàn gà táo tác ngoài sân. Rồi sinh con đẻ cái. Rồi dựng cái nhà mới. Rồi xúng xính trong bộ đồ lễ hội ngày xuân. Rồi điệu hát soong hao của bản làng người Tày vấn vít đồi này, bản kia.

Ở con người Nông Thị Hưng, cái niềm vui bình dị ấy như cũng khó khăn. Lấy chồng, sinh con, làm nhà. Con nhỏ hai tuổi, nén lòng để con ở nhà, ba ngày tàu xe vào tận Bình Dương làm thợ cạo mủ cao su. Không phải đời sống quá túng bấn. Không phải ở quê không có việc làm. Mà Hưng đi làm xa, như trốn chạy cái cảnh ngộ “gia đình bé mọn” của mình không êm ấm, xuôi chèo mát mái cho được bằng chị bằng em. 

Làm thợ cạo mủ cao su hơn một tháng, được tin con ốm nặng. Lại băm bổ ngược tàu xe về quê chăm con. Con khỏe, Nông Thị Hưng lại đành gửi ông bà về Hà Nội làm ôsin. Những ngày lam lũ ấy, Nông Thị Hưng chưa hề có ý định làm thơ. Chỉ cần cuộc sống thoát khỏi sự tù túng.

Đa phần những người làm thơ thường mê thơ và viết thơ ngay từ tuổi học trò. Mấy năm học ở trường bản, rồi về Trường Thanh niên dân tộc Mỏ Trạng nội trú, Nông Thị Hưng sống lặng lẽ, khép mình, chưa viết một câu thơ nào. Tới năm ba mươi tuổi, tình cờ một hôm ra nhà văn hóa xã, vớ được Tạp chí Sông Thương (Tạp chí của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bắc Giang), Hưng đọc một loạt bài thơ trong đó. Rồi Hưng nổi hứng viết thơ.

Tác giả Nông Thị Hưng.
Tác giả Nông Thị Hưng.

Theo số điện thoại liên hệ trong tạp chí, Nông Thị Hưng hỏi cách thức gửi bài vở. Như một sự tình cờ, người nghe điện thoại bữa ấy lại là nhà văn Đỗ Nhật Minh, một người biên tập kỳ cựu của tạp chí. Ông động viên Nông Thị Hưng gửi bài vở cộng tác. Rồi ông thành người theo dõi bước đi trên con đường chữ nghĩa của Nông Thị Hưng. Bài thơ đầu tiên Nông Thị Hưng được in trên Tạp chí Sông Thương là bài “Người miền núi”:

Người miền núi
Chân quen đi đất
Thắt phẻn dao
Ăn sương uống nắng.

Người miền núi
Lời nói chắc như gỗ lim
Thẳng như cung đã bắn.

Những câu chữ thật thà. Rồi Hưng viết thơ về bản làng thân yêu của mình.

Một con dao quăng
Hai con dao quăng
Xa Lý đây mà ta đã xa
Không nghe thấy con gà gáy sáng
Không nghe thấy câu sli bập bùng vách liếp...

Cả đoạn thơ trên vẫn tả. Nhưng đến hai câu cuối:

Con dao quăng của em cùn quăn, cũ kĩ
m quăng suốt đời, không bén rừng anh.

(Nhớ con dao quăng)

Thì lại phơi ra cái cô đơn, lẻ loi của phận người. Phẩm chất thi sĩ hé lộ ở đây. Người đời vẫn vậy, sống hết mình mà chắc gì có cơ duyên đến với nhau được. Chị có những khổ thơ hay khi viết về bản làng:

Bản làng nhỏ bé của tôi ơi
Cheo leo những đèo những dốc

Hai câu chỉ tả. Nhưng đến câu thứ ba, gây ấn tượng:

Bỗng nghe đá lăn lộc cộc
Âm âm núi thẳm sương mờ

(Ngôi làng nhỏ của tôi)

Bài thơ "Nghe quê” phơi ra cái bản làng nghèo khó “Quê nghèo cái nắng cũng đau”. Nắng cũng đau là một phát hiện. Một cách nói mới. Bên cạnh đó, lại lấp lánh một tâm hồn trong trẻo “Bước chân vụng dại qua miền trắng phau”. Người đàn bà hai con, đã qua tuổi ba mươi mà vẫn lóng lánh ký ức đẹp và buồn. Lại giữa thời điểm tình cảm “gia đình bé mọn” không suôn sẻ gì thì rõ là bi kịch rồi. Nhiều giai thoại về người đàn bà Tày làm thơ này. Người chồng bất đồng, không muốn cho chị dính vào sách vở, chữ nghĩa. Nhất là thơ phú. Đã mấy lần toan đốt sách vở của người vợ. Cho là lãng mạn.

Ấy vậy, tâm hồn người vợ vẫn còn tơ tưởng “Em quăng suốt đời, không bén rừng anh”. Vì thế, mấy lần, chị phải giấu chồng đi gửi hàng xóm sách báo mà mình tích cóp. Mấy cuốn sổ tay thơ chị từng viết hý hoáy bên bếp lửa bập bùng, bên ngọn đèn lom đom.

Giấu chồng, đã mấy lần chị phải gói sách thơ vào túi nilon, chôn xuống vạt đất góc vườn. Chôn sách được mấy bữa, nhớ quá, lại âm thầm vụng trộm đào lên để đọc lại. Giai thoại chôn sách thơ của chị làm người ta dễ liên tưởng đến thời nữ sĩ Anh Thơ, người cùng quê Bắc Giang, vì người cha cấm đoán không muốn cho con gái dính đến thơ phú, bà phải viết giấu người cha tập thơ “Bức tranh quê”. Tập thơ sau đó được giải thưởng của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, đem lại vinh quang lớn cho bà và gia đình.

*

Thơ ca, với người này người kia, đôi khi tỉnh táo và quyết đoán hơn một vị tướng điều hành đội quân tinh nhuệ. Với người khác, có khi lại như bùa mê thuốc lú. Chả biết với Nông Thị Hưng là tỉnh táo hay u mê?

Gần hai mươi năm mê thơ, viết thơ đã kéo chị đi xa cái bản Trại Hạ của chị. Trong tâm tưởng, bản nhỏ của miền rừng núi Yên Thế vẫn day dứt khôn nguôi. “Nhớ quá rồi ngọn lửa liu riu/ Mẹ ngồi nấu cời than khói bếp/ Nhớ quá rồi bàn chân lấm láp/ Mùa đi nương kĩu kịt vai gầy...” (Nhớ). Dĩ vãng vẫn là những kỷ niệm đẹp.

Ngày em theo anh về
Mùa nhớ đi qua đồi cỏ gianh
Màu đêm ở lại trong hốc cây cùng tiếng tắc kè
Em ở lại với tình yêu nương rẫy
Với trái tim ủ lửa anh ngun ngút cháy dâng ngày.

(Ngày em theo anh về)

Bao năm bươn trải đời sống phố thị, nhưng hình ảnh người “Đàn bà xóm núi” vẫn đậm đà trong tâm khảm:

Mở mắt ra mắt lại va vào núi
Con đường vòng, đôi chân bước ngả nghiêng
Không cần hóa trang
Không cần tô điểm
Những khuôn mặt
Ngày ngày lầm lũi.

Sống và mưu sinh giữa đời sống phố thị, cho dù họa hoằn mới được trở về bản nhỏ cố hương của mình, nhưng Nông Thị Hưng vẫn luôn nhận mình là người của núi rừng. Trong một câu thơ, chị viết: “Áo váy mặc vẫn mang hồn núi/ Từ thuở ông bà chữ nghĩa đơm hoa”.

Chấp nhận gian khó, ngày thường nhật đi làm công việc quét dọn giúp nhà dân, làm tạp vụ cho một vài cơ quan, đủ tiền trang trải sách bút cho con ăn học, đủ  tiền nhà trọ. Thi thoảng, nhớ con đường sỏi quanh quanh, nhớ những vạt đồi bát úp miền quê Yên Thế, chị lại nhảy tàu xe về thăm quê đôi ba bữa. Rồi lại trở lại với đời thường mưu sinh lầm lũi của mình.

Đêm đêm, chị lại thả tâm hồn mình cho những câu thơ chới với. Chị đã dám đánh cược đời mình với thơ ca. Chị nói, nếu không có thơ ca, chị không biết bám víu vào đâu để sống, để tồn tại. Đương nhiên, thành công của thi ca lại còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố khác. Nhưng trân trọng thái độ của chị.                     

Người đi vay vốn – thế chấp tài sản
Tôi thế chấp
                 bằng thơ
Những câu thơ lấm lem bùn đất
Những câu thơ tạc số phận con người.

        (Thế chấp 1)

Người ta thế chấp nhà cửa, xe cộ. Còn chị đem thế chấp thơ thì chênh vênh thật rồi. Nhưng thơ là cuộc đời của chị. Niềm đam mê thơ ca đã không phụ chị. Chị đã xuất bản hai tập thơ. Tập “Mười bài”, 2014. Tập “Men rừng”, 2018, được giải thưởng của Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam. Chị đã được kết nạp vào Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Bắc Giang. Ba năm, 2005, 2009, 2018, chị được tặng thưởng của Tạp chí Sông Thương. Thơ chị thường xuyên xuất hiện trên báo chí Trung ương và địa phương.

Là người mê thơ ca, tự học, tự tiến thân cùng thơ ca. Thơ đã giúp chị vượt qua bao nỗi gập ghềnh. Nhờ có thơ, chị đã quen biết, kết thân và học hỏi được rất nhiều với những nhà văn, nhà thơ danh tiếng. Chị nói rằng, tuy công việc lao động phổ thông lại giúp ích chị rất nhiều.

Không chỉ là được nhận những đồng công lao động, mà qua đó, chị còn hiểu thêm rất nhiều cảnh ngộ, cảnh đời. Ngay công việc đơn sơ cũng có khi cho chị niềm vui bất ngờ. Nhờ chị dọn dẹp nhà cửa, thấy chị ham đọc sách, có gia đình đã cho chị nhiều cuốn sách quý. Tài sản của chị tại nhà trọ là số lượng sách báo khá đa dạng. Đời sống không thuận tiện, gia đình không xuôi chèo mát mái, nhưng những vần thơ chị viết ra vẫn da diết tình yêu cuộc sống.

Trong thơ chị, không thấy cái hằn học, tị hiềm. Cũng không thể đòi hỏi sự quá quặn thắt, chua cay trong thơ chị. Không triết lý cao siêu. Vì thơ là trạng trái cá thể của mỗi người. Không một lời kêu ca, oán thán. Có lẽ, thiên nhiên rừng núi tuổi thơ quê hương đã giúp chị, bồi đắp chị cái tình cảm da diết, thơ thới.

Nhưng đọc trong thơ chị, vẫn không giấu nổi nỗi niềm yếu đuối của người đàn bà làm thơ.

Núi tưởng vững,vẫn gục đầu trên sóng.

 (Núi và biển)

Núi, tượng hình cho sự vững chãi, bất biến. Nhưng núi vẫn phải gục đầu trên sóng, tựa vào sóng. Sóng, cái chênh vênh, thay đổi bất chợt. Sự vô lý này lại phơi ra cái có lý của người làm thơ. Nhất là người đàn bà làm thơ. Giây phút yếu đuối là tất nhiên, không tránh khỏi.

Tháng 3-2019

Vũ Từ Trang

Các tin khác

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.