Người bén duyên Hò khoan Lệ Thủy

Vừa từ Quảng Bình ra, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vỹ gọi điện bảo tôi xuống ông ngay "có món này hay lắm". Tưởng là món nhậu gì đó, hóa ra không phải. Ông mở cho xem cuốn băng do Viện Âm nhạc vừa ghi hình về Hò khoan Lệ Thủy do chính các nghệ nhân ở Câu lạc bộ Hò khoan Lệ Thủy trình diễn... 

Tôi biết ông gần hai năm nay lặn lội ở Quảng Bình, mê đắm với Hò khoan Lệ Thủy, không tiếc công sức, kể cả tiền bạc, với mong muốn phục hồi giá trị của các làn điệu hò ở đây, phát huy nó ngày càng phát triển.

Nói về lịch sử tồn tại, phát triển của Hò khoan Lệ Thủy, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vỹ, thì bản thân nó là di sản của vùng đất có sự tích tụ cư dân từ lâu đời. Đó là từ khi cư dân từ Bắc Thanh - Nghệ vào khai khẩn đất đai từ thế kỷ 11, 12; nhất  là thời Trần, đã mang vốn văn hóa từ phía Bắc vào, dần dần tồn tại thành một hệ thống văn hóa riêng.

Tiến sỹ Dương Văn An, sinh khoảng năm 1514 (chưa rõ năm mất) là người làng Tuy Lộc, huyện Lệ Thủy, vào năm 1553 đã viết cuốn "Ô châu Cận lục" - là cuốn sách đầu tiên theo dạng nghiên cứu về địa chí tỉnh Quảng Bình, đã viết rất cụ thể, chi tiết về tình hình cư dân, lối sống tập quán của người dân bản địa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vỹ (ngoài cùng bên phải) với các nghệ nhân CLB Hò khoan Lệ thủy.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vỹ (ngoài cùng bên phải) với các nghệ nhân CLB Hò khoan Lệ thủy.

Đặc biệt ông viết về một số tục hát, như "Hò đưa linh", "Hò chèo cạn", "Hò bài chòi"… và những tục hát đó vẫn tồn tại đến ngày nay. Đây là những tục hát được chép trong cổ thư thuộc loại sớm nhất. Khi Nguyễn Hoàng vào Nam năm 1558 đóng dinh ở Ái Tử (Quảng Trị), chỉ trong gần một thập niên, ông đã cho xây dựng thành một vùng đất có nền nếp, căn cơ, nhằm cung cấp nhân tài, vật lực cho Nguyễn Hoàng để xây dựng các đời Chúa Nguyễn về sau, và chính vùng đất này đã thuộc về các đời Chúa Nguyễn trong các thế kỷ tiếp theo.

Khi Đào Duy Từ dựng thành Trường Lũy ở Đồng Hới (vào khoảng năm 1630, 1631), ở đây ông tiếp tục bổ sung nghệ thuật tuồng hát vào lối hát trên đất này, làm cho văn nghệ dân gian ngày càng phong phú. Chính văn nghệ dân gian vùng này đã tích cực đóng góp cho nghệ thuật Triều đình Huế (từ 1802), và nghệ thuật cung đình Huế khi tích lũy xong, cũng tràn lại, nâng cấp Hò khoan Lệ Thủy.

Vì thế Hò khoan Lệ Thủy vừa có tính địa phương độc đáo, vừa có tính rộng mở. Từ đó đến nay, Hò khoan Lệ Thủy vẫn duy trì liên tục và phát triển phổ biến ở hầu khắp các làng của hai huyện Lệ Thủy và Quảng Ninh.

Nhưng Hò khoan Lệ Thủy chịu nhiều thiệt thòi. Cái thiệt thòi của một "cô gái đẹp ngủ quên trong rừng". Đó là vì vùng đất này từng diễn ra các cuộc chiến tranh liên miên ở cả những thế kỷ trước và sau này... Sau năm 1954 hòa bình lập lại ở miền Bắc, thì từ  năm 1960, các trung tâm nghiên cứu lớn đã sớm tập trung vào nghiên cứu dân ca Quan họ, hát Xoan, hát ghẹo, Ví dặm… nhưng không thể và không có điều kiện vào tuyến lửa Quảng Bình để nghiên cứu, quảng bá Hò khoan Lệ Thủy.

Nhìn nhận theo địa lý văn hóa thì Hò khoan Lệ Thủy có đủ bốn không gian cơ bản. Không gian miền rừng có "Hò lỉa trâu": Trâu đang kéo gỗ chỉ cần nghe cách hát là tự nó khắc biết đi nhanh, đi chậm hay dừng lại. Không gian sông nước (chủ yếu hát trên dòng Kiến Giang) có: Hò mái ruổi, hò mái nhì, mái ba… Không gian đồng ruộng, thôn xóm có: Hò mái nện, hò mái chè, hò mái xắp… Không gian biển có: Hò nậu xăm, hò khơi…

Còn trong đời sống dân sinh, các điệu hò tồn tại trong các sinh hoạt đi rừng, chèo đò dọc, đánh lưới bắt cá, buôn bán, cấy lúa, làm nhà, nện nền, giã gạo, đắp đất, chèo thuyền đưa linh, nện mồ. Ngoài ra còn thể hiện trong giao đãi, trong các lễ nghi trong cuộc sống hàng ngày.

Nét đặc trưng của Hò khoan Lệ Thủy là có "xướng" và "Xố". Tức là một người xướng, thì tất cả mọi người đang tham gia lao động có thể xố theo, vì thế tạo nên sự hòa đồng giữa lao động và hát ca. Rất thuận lợi trong việc vận động các phong trào, cần đông người tham gia.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vỹ sau khi nghiên cứu Hò khoan Lệ Thủy đã mê đắm, nhưng chưa có dịp tiếp cận nhiều. Ông kể: Tháng 12 (Âm lịch) 2015, ông được mời viết kịch bản và làm Tổng đạo diễn Đại lễ hội chùa Hoằng Phúc ở xã Mỹ Thủy, Lệ Thủy vừa mới được trùng tân lần thứ nhất.

Trong nghi lễ phần trình diễn quảng trường thấy người ta đặt các tác phẩm sân khấu, trong đó có Hò khoan. Ông liền gặp các nghệ nhân thuộc câu lạc bộ Hò khoan mới được thành lập cách đó 5 tháng. Chỉ trong hai ngày ông viết 2 hoạt cảnh. Hoạt cảnh thứ nhất "Huyền thoại Trần Nhân Tông"- Vì Hoàng đế Trần Nhân Tông trong chuyến đi du hóa Chiêm Thành (năm 1301) là người đầu tiên lập am Phật ở chùa Hoằng Phúc. Hoạt cảnh thứ hai "Xuống thuyền đi hội chùa quan" (ngôi chùa được nhà Nguyễn coi là Quốc tự).

Cả hai hoạt cảnh này đều do những nghệ nhân nông dân hát, mà lại hát về Phật trong một lễ hội của Phật giáo nên rất thành công. Sau việc này, Nguyễn Hùng Vỹ nhận thấy đây là một câu lạc bộ giầu năng lực dân ca. Nhưng lại nghèo quá, quần áo phải đi mượn, giầy dép cũng không, có một chiếc nhị cũ kéo không ra tiếng… nhưng được tình người rất nồng thắm, tinh thần hăng hái, thế là ông cảm mến, gắn bó với họ. Bằng kinh nghiệm của người nhiều năm nghiên cứu văn hóa dân gian, ông nghĩ ra những việc cần làm và từng bước giúp họ.

Vợ chồng ông đã lên Bắc Ninh đặt 4 bộ áo nam và tặng họ 5 đôi giày đi diễn. Ông cũng vận động mọi người tặng nhạc cụ như nhị, đàn nguyệt, sáo… Rồi dậy họ cách giao tiếp. Vì lâu nay họ chỉ hát ở hội nghị, đám cưới, đám tang trong làng, chứ chưa đi diễn bao giờ nên chưa biết cách mời chào, vào đề. Tính chất của từng sự kiện khác nhau, nên ông phải soạn ra những lời giao đãi cho phù hợp để họ hát khi mở đầu các buổi diễn. 

Nhận thấy các nội dung biểu diễn còn ít, các tổ hợp hò còn chưa đầy đủ, nên cái gì còn thiếu, còn ít, ông viết cho họ. Một vấn đề nữa là phải đào tạo lớp trẻ, vì nòng cốt của câu lạc bộ hiện nay như các nghệ nhân: Nguyễn Cao Nhường, Nguyễn Hải Lý, Trần Thám, Dương Quang Lợi, Lê Thị Hạnh… đều sinh năm 1958 trở về trước.

Khi tập luyện được tiết mục rồi, thì thực hành biểu diễn giao lưu, quảng bá cũng là một việc không dễ, vì thiếu kinh phí. Nhưng bằng sự quyết tâm, nỗ lực vượt khó khăn của các nghệ nhân, đến nay Câu lạc bộ Hò khoan Lệ Thủy  đã tổ chức thành công ba chuyến đi xa.

Đó là chuyến đi giao lưu với ba tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Đồng. Chuyến thứ 2 đi Nghệ An, Hà Tĩnh và chuyến thứ ba mới đây đi Hà Nội, Bắc Ninh. Chuyến đi đầu khó khăn nhất, kinh phí do nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vỹ và nhà báo Tô Hà góp một phần, chuyến thứ hai được huyện cấp 4 triệu và nhà báo Nghiêm Sỹ Đống (Hà Tĩnh) ủng hộ 5 triệu.

Chuyến thứ ba  huyện cấp 25 triệu tiền thuê xe và ăn ở; bà con đồng hương Quảng Bình ở Hà Nội  đã ủng hộ được 62 triệu đồng. Điều đáng mừng đối với nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vỹ và những người yêu Hò khoan Lệ Thủy, là nhờ Câu lạc bộ Hò khoan Lệ Thủy có hướng đi đúng và hoạt động có hiệu quả, nên Nghị quyết của Ban Chấp hành Huyện ủy Lệ Thủy khóa này đã đưa việc bảo tồn, phát triển, quảng bá Hò khoan Lệ Thủy thành một nội dung hành động. Đây là thuận lợi mới trong việc bảo tồn, phát triển một di sản đã tồn tại lâu đời trên đất Quảng Bình.

Hà Văn Thể

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.