Kỷ niệm 200 năm ngày mất của Đại thi hào Nguyễn Du

Ngày xuân nghĩ về Nguyễn Du và “Truyện Kiều”

Nguyễn Du (1765-1820) được biết đến là đại thi hào của dân tộc Việt Nam. Tháng 12-1964, tại thành phố Berlin (Đức), Hội đồng Hòa bình thế giới đã ra quyết nghị tổ chức kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Nguyễn Du (1765 - 1965). Đây là sự ghi nhận với những cống hiến của đại thi hào Nguyễn Du cho nền văn học Việt Nam và sự phát triển của văn hóa nhân loại.

Về việc vinh danh đại thi hào Nguyễn Du

Ngày 25-10-2013, tại kỳ họp lần thứ 37 của Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO) họp tại Paris (Pháp) đã chính thức ban hành Nghị quyết, nhất trí vinh danh đại thi hào Nguyễn Du. Tiến sĩ Phan Tử Phùng, Phó Chủ tịch Hội Kiều học Việt Nam, thuộc Ban Vận động UNESCO Vinh danh Nguyễn Du cho rằng Nguyễn Du, theo đúng cách gọi của UNESCO, là "Vĩ nhân Văn hóa" (Great Personalities).

Có thể khẳng định rằng, chỉ riêng "Truyện Kiều" cũng đã để lại dấu ấn của Nguyễn Du đối với nền văn hóa dân tộc. Nhiều tài liệu viết rằng, sau khi Nguyễn Du viết xong "Truyện Kiều", những bạn hữu của ông đọc rồi đem khắc bản gỗ và bán tại các cửa hàng sách.

Đào Nguyên Phổ ghi lại rằng: "Truyện giai nhân diễn thành giai tác, lại đượm hương trời càng là thêm vẻ, nên chi người ngâm vịnh quý hơn được ngọc bích, tranh nhau sao chép đến nỗi giá giấy đắt như giấy quý Lạc Đô". Dân gian đã ví von: "Mê gì? Mê đánh tổ tôm. Mê ngựa hộ bổn, mê nôm Thúy Kiều". Và vua Tự Đức rất mê "Truyện Kiều", từng nhận xét tác phẩm này là "hàng hàng châu ngọc lời lời gấm thêu".

Vào năm 2015, vào dịp kỷ niệm 250 năm ngày sinh của đại thi hào Nguyễn Du, Tổ chức Liên minh Kỷ lục thế giới đã ghi nhận "Truyện Kiều" chính thức trở thành "Tác phẩm văn học tạo nên nhiều kỷ lục quốc gia nhất" với 27 kỷ lục đa dạng qua các hình thức sách báo, dịch thuật, điêu khắc, tranh lụa, hợp xướng, thư pháp, sân khấu… như: Tác giả có nhiều sách viết về "Truyện Kiều" nhất Việt Nam (Kỷ lục gia: Nhà nghiên cứu Phạm Đan Quế); Quyển "Truyện Kiều" viết bằng thư pháp nặng nhất (Kỷ lục gia, Nhà thư pháp Nguyệt Đình); Người viết "Truyện Kiều" trên đá cuội đầu tiên ở Việt Nam (Kỷ lục gia: Nguyễn Văn Tân); Bản hợp xướng viết dựa theo "Truyện Kiều" dài nhất (Kỷ lục gia: Vũ Đình Ân); Người vẽ tranh lụa về "Truyện Kiều" đầy đủ và nhiều tranh nhất (Họa sĩ, Kỷ lục gia Ngọc Mai)...

Tượng đại thi hào Nguyễn Du tại khu lưu niệm Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
Tượng đại thi hào Nguyễn Du tại khu lưu niệm Nghi Xuân, Hà Tĩnh.

Hội đồng Liên minh Kỷ lục thế giới cũng đã đánh giá "Truyện Kiều" của Nguyễn Du gồm 3.254 câu thơ lục bát là một kiệt tác văn học. Tác phẩm này đã chinh phục các thế hệ công chúng trong hơn 200 năm qua. "Truyện Kiều" cũng đã được chuyển ngữ sang hơn 20 thứ tiếng khác nhau trên thế giới như Anh, Nga, Pháp… với trên 35 bản dịch.

Quan niệm về người phụ nữ và tư tưởng nhân văn sâu sắc

Câu "Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung" do đại thi hào Nguyễn Du viết trong "Truyện Kiều" không phải nói về thân phận người phụ nữ Việt Nam. Bởi đại thi hào, thông qua "Truyện Kiều" đã cho nhân dân Việt Nam thấy được một góc cạnh của xã hội phong kiến Trung Hoa đương thời.

Nhân vật Đạm Tiên, Vương Thúy Kiều trong "Kim Vân Kiều Truyện" (nguyên bản của "Truyện Kiều") là của tác giả người Trung Hoa Thanh Tâm Tài Nhân đều là những cô gái Trung Hoa phong kiến 100%. Thật ra, Thanh Tâm Tài Nhân cũng không phải là người ghi chép sớm nhất về Vương Thúy Kiều.

Bản ghi chép sớm nhất về Thuý Kiều là "Kỷ tiễu trừ Từ Hải bản mạt" của Mao Khôn đời Minh. Bản này chép: "Vương Thuý Kiều là kỹ nữ Lâm Tri, đầu tiên là Kiều Nhi, giỏi hát lối mới, thạo hồ cầm...”. Trong bản chép này, kết thúc cuộc đời sóng gió, đau khổ của Kiều là: “...Sau khi bị Đốc phủ làm ô nhục, Kiều bị gả cho tù trưởng Vĩnh Thuận làm thiếp.

Trên đường qua sông Tiền Đường, Thuý Kiều than: Minh Sơn hậu đãi ta, ta vì việc nước dụ chàng mà bị hại. Giết một người chồng rồi lại lấy một người chồng, còn mặt mũi nào sống nữa! Bèn nhảy xuống sông mà chết". Sự kiện này diễn ra vào năm Gia Tĩnh thứ 35, năm 1556, đời Minh Thế Tông. Các nhân vật như Vương Thúy Kiều, Từ Hải, Hồ Tôn Hiến đều có thật trong lịch sử.

Từ câu chuyện có thật của lịch sử như trên, Thanh Tâm Tài Nhân đã viết thành "Kim Vân Kiều Truyện". Đại thi hào Nguyễn Du nhân vua nhà Nguyễn nước ta sai đi sứ sang Trung Hoa thời Thanh đã đọc được "Kim Vân Kiều Truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân và ông đã xúc động mà viết nên "Truyện Kiều".

Bởi vậy, "Đau đớn thay phận đàn bà" của Nguyễn Du chính là nhằm phản ánh về thân phận người phụ nữ của Trung Hoa phong kiến. Có thể nói, đại thi hào Nguyễn Du, thông qua "Truyện Kiều" đã cho nhân dân Việt Nam thấy được một góc cạnh của xã hội phong kiến Trung Hoa đương thời.

Còn thực tế ở Việt Nam, qua đánh giá của cá nhân người viết thì vai trò của người phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam không đến mức bi thảm như xã hội phong kiến Trung Hoa. Không có chuyện người đàn ông Việt Nam coi khinh người phụ nữ vì người phụ nữ chính là chủ của cái bếp, người nắm giữ và phân phối nền kinh tế gia đình do xuất phát từ văn hóa nông nghiệp và lối sống định cư, dù là trong tục ngữ, ca dao:

Vắng đàn ông quạnh nhà, vắng đàn bà quạnh bếp
Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm

Đặc biệt, người phụ nữ còn có vai trò quan trọng hơn nam giới khi đưa ra các quyết định cụ thể:

Lệnh ông không bằng cồng bà

Và khi sinh con thì người Việt chuộng sinh con gái đầu lòng:

Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng

Người dân Việt Nam ta cũng đã phản ứng rất dữ dội với tư tưởng Nho giáo Trung Quốc khinh rẻ người phụ nữ du nhập vào nước ta:

Ba đồng một mớ đàn ông
Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha
Ba trăm một mụ đàn bà
Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi!

Cái tài của Nguyễn Du là đã dùng quan niệm về người phụ nữ của dân tộc ta để đả phá quan niệm về người phụ nữ trong Nho giáo từ Trung Quốc du nhập vào nước ta. Đặc biệt, chữ "Trinh" của Kiều trong tâm thức Nguyễn Du chính là:

Xưa nay trong đạo đàn bà,
Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường.

Trong khi đó, xã hội phong kiến Trung Hoa là xã hội phụ quyền, gốc gác từ dân du mục Hán, tồn tại hàng nghìn năm với những quan niệm bất công, khắt khe như "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử" và quan niệm trọng nam khinh nữ "Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô" đã dành mọi ưu tiên, ưu đãi cho người đàn ông và đẩy người phụ nữ xuống địa vị thấp kém nhất trong gia đình cũng như xã hội.

Đặc biệt là thân phận kỹ nữ Trung Hoa, được Nguyễn Du miêu tả qua nhân vật Đạm Tiên khiến người Việt Nam ta không ai không xúc động:

Đau đớn thay phận đàn bà!
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
Phũ phàng chi bấy Hóa công
Ngày xanh mòn mỏi, má hồng phôi pha
Sống làm vợ khắp người ta
Hại thay thác xuống làm ma không chồng

Như vậy, "Đau đớn thay phận đàn bà" của Nguyễn Du là nói đến Đạm Tiên, một phụ nữ Trung Hoa tận đáy xã hội Trung Hoa với nghề kỹ nữ! Vương Thúy Kiều là kiếp sau của Đạm Tiên, cũng vướng vào nghề kỹ nữ, một nghề dơ bẩn trong xã hội Trung Hoa phong kiến. Nhưng khác với sự thật lịch sử bên Trung Hoa, Vương Thúy Kiều trong "Truyện Kiều" của Nguyễn Du cuối cùng cũng tìm được hạnh phúc chân chính, chứ không phải là cái chết do nhảy xuống sông tự vẫn.

Đặc biệt, sau khi Kiều đã 15 năm lưu lạc thì Kim Trọng vẫn thủy chung chờ đợi và tìm kiếm nàng. Và lạ lùng thay, trong đêm tân hôn, Thúy Kiều đã xin đổi duyên vợ chồng với Kim Trọng thành duyên tri kỷ và Kim Trọng cũng đã đồng ý! Chỉ có văn hóa Việt Nam mới sinh ra được câu chuyện kỳ lạ như thế!

Nghĩa là người phụ nữ quyết định được cuộc sống của chính mình. Bởi vậy, có thể khẳng định Nguyễn Du không dịch "Kim Vân Kiều truyện" ra tiếng Việt mà chỉ dựa vào cốt truyện để viết nên một truyện thơ mới thuần Việt, một truyện thơ mang tư tưởng nhân văn sâu sắc của người Việt Nam. Đánh giá về điều này, nhà thơ Tố Hữu từng viết trong bài thơ "Bài ca Xuân 61" rằng:

Trải qua một cuộc bể dâu
Câu thơ còn đọng nỗi đau nhân tình
Nổi chìm kiếp sống lênh đênh
Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều

Chính vì như vậy, "Truyện Kiều" mới có sức sống mãnh liệt trong lòng dân tộc ta như thế! Nó chính là một thái độ của dân tộc ta trước lễ giáo và quan niệm xã hội cổ hủ của Nho giáo Trung Quốc. Vào thời kỳ Pháp thuộc, học giả Phạm Quỳnh từng nói "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn". Cá nhân tôi nghĩ rằng, không phải chữ Nôm mà chính là tiếng nói từ lương tri dân tộc đã tạo nên bản sắc Việt Nam trong hàng ngàn năm, không lẫn vào các nền văn hóa mang tính nô dịch từ phong kiến Trung Quốc hay từ phương Tây thời thực dân tràn đến!

Huế, ngày 1-1-2020.

Nguyễn Văn Toàn

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.