Ngân mãi tiếng sáo Ngọc Phan

Không những biểu diễn giỏi mà Ngọc Phan còn say sưa suy nghĩ để tìm cách cải tiến, nâng cao hiệu quả diễn tấu của cây sáo dân tộc. Thành tựu đáng kể nhất của ông là đã mở rộng thêm âm vực của sáo bằng việc thêm 5 âm cao và 1 âm trầm, hoàn thiện sáo 6 lỗ thành 10 lỗ.

Hồi còn là một cậu thiếu niên, tôi đã rất mê nghe đài (Ngày ấy chỉ có đài phát thanh chứ chưa có Truyền hình). Ngoài nghe các bài hát mới, tôi còn đặc biệt thích thú với các chương trình dân ca, nhạc cổ. Có hai bản nhạc được diễn tấu bằng nhạc cụ dân tộc là “Dòng kênh trong” (đàn bầu) và “Nhớ về Nam” (sáo trúc), tôi nghe đi nghe lại không biết chán, đến mức thuộc lòng giai điệu, có thể xướng lên chính xác như hát một ca khúc.

Mãi về sau, tôi mới rõ hai bản nhạc đó là “Dòng kênh trong” của nhạc sỹ Hoàng Đạm do Mạnh Thắng đánh đàn bầu và “Nhớ về Nam” của Ngọc Phan do tác giả thổi sáo trúc. Riêng bài sáo này, khi ấy tôi cũng như nhiều người chưa thể đặt chân đến mảnh đất miền Nam Trung Bộ của Tổ quốc nhưng nghe cứ thấy có cái gì đó nhớ thương da diết và gợi lên một tình cảm rất đỗi thân thương. Tiếng sáo véo von, dìu dặt, cứ như xoáy vào lòng người, lúc thủ thỉ ân tình, lúc lại như hối hả, thúc giục…Tóm lại là rất nhiều cung bậc tình cảm phong phú được người sáng tác tự thể hiện thật tài tình.

NSƯT Ngọc Phan.

NSƯT Ngọc Phan.

Cái tên Ngọc Phan ám ảnh tôi từ đó. Thời ấy, tôi nhớ rõ, ngoài Ngọc Phan còn có ba người thổi sáo hay nữa là Đức Tùy, Đinh Thìn và Kim Vĩnh. Đức Tùy qua đời rất sớm. Đinh Thìn cũng không trường thọ. Kim Vĩnh thì chuyên về sáo Mèo. Riêng Ngọc Phan kéo được khá dài tuổi nghệ thuật của mình. Mãi đến trước khi qua đời ở tuổi 79 (1938 – 2017), ông vẫn còn biểu diễn khi cần. Tiếng sáo của ông quả là rất đặc biệt.

Người nghệ sỹ này thổi sáo tài tình ở chỗ, có những đoạn nhạc rất dài nhưng người nghe đã không thể phát hiện chỗ nào ông lấy hơi mà có cảm giác hơi ông rất dài đến kỳ lạ (người khác thổi đương nhiên là phải ngắt để lấy hơi nhiều lần). Ông cho biết, để đạt được điều này, phải khổ công luyện tập, đặc biệt là luyện cách lấy và giữ hơi. 

“Trích ngang” lý lịch của Ngọc Phan khá đơn giản, ngắn gọn: Sinh năm 1938, quê Kiến An, Hải Phòng. Năm 1956, ở tuổi 18, thi vào Trường Âm nhạc Việt Nam (tiền thân của Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam ngày nay). Tốt nghiệp loại xuất xắc, có 3 đơn vị nghệ thuật đều muốn lấy Ngọc Phan về làm việc là Đoàn Ca múa Quân đội, Đoàn Ca múa Nhân dân Trung ương (nay là Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam), Đài Tiếng nói Việt Nam.

Ngọc Phan chọn Đài và làm việc cho tới lúc nghỉ hưu. Chuyện thi vào trường nhạc của ông cũng khá thú vị. Lúc ở nhà, bạn bè xui nên thi để theo học đàn viôlông vì là nhạc cụ Tây phương, hiện đại. Chàng trai Phan khi ấy cũng nghe nói đàn này là “nữ hoàng âm nhạc” rất sang trọng bèn hăm hở lên Hà Nội đăng ký dự thi. Vào phòng thi, Ngọc Phan phải thử năng khiếu và kéo đàn.

Năng khiếu thì tốt, đạt điểm tối đa 5/5 (theo thang điểm Liên Xô chỉ có 5 bậc). Nhưng kéo đàn không ổn. Ở nhà từng tập kéo tập toạng, nhưng vào phòng thi do quá run mà kéo không ra tiếng, chỉ ò í e. Tuy nhiên, giám khảo thấy điểm năng khiếu của Phan tốt bèn hỏi: “Ngoài đàn viôlông, em còn chơi được nhạc cụ nào khác nữa không?”.

Thí sinh này cho biết còn thổi được sáo nhưng cũng chỉ võ vẽ do hồi nhỏ, theo đám bạn thả trâu vẫn tập thổi sáo. Thế là giám khảo yêu cầu Phan thổi. Họ lấy một cây sáo trúc của trường đưa cho Phan và nói: “Em cứ mạnh dạn thổi. Vì là thổi cây sáo lạ, không quen nên chúng tôi sẽ trừ hao sự vấp váp của em. Cứ yên tâm”. Thế là Ngọc Phan thổi luôn bài “Mùa hoa nở” của Nguyễn Văn Tý (“Dân Liên Xô vui hát trên đồng hoa. Đây bao la ánh sáng đang chan hòa…”).

Thổi xong một lần, Ngọc Phan định thổi tiếp lần hai thì giám khảo ngắt: “Thôi được rồi. Em có thổi được bài dân ca nào không?”. Thí sinh này xin thổi bài “Cây trúc xinh” (dân ca quan họ Bắc Ninh). Cũng vừa thổi xong một lần, định thổi tiếp thì giám khảo lại ngắt: “Cảm ơn em. Phần thi của em đã xong”. Ngọc Phan ra về với nỗi lo không biết mình thế nào vì lúc đầu kéo viôlông chẳng ra gì. Chuyển sang thổi sáo thì cả hai bài đều bị ngắt giữa chừng, không được thổi trọn vẹn.

Trở về nhà, Ngọc Phan hồi hộp chờ giấy báo kết quả. Mãi chẳng thấy gì, rồi nghe nói đã có danh sách thí sinh trúng tuyển niêm yết ở trường, đến xem thì thấy không có tên mình. Buồn rũ rượi vì nghĩ mình bị trượt. Nhưng bạn bè xui: “Mày thổi hay thế, thi năng khiếu tốt, sao có thể trượt? Cứ tìm gặp thầy Hiệu trưởng hỏi xem sao”.

Thế là Ngọc Phan đã không ngần ngại, tìm thầy Tạ Phước khi đó là Hiệu trưởng, Trưởng ban giám khảo để hỏi lại. Ông cho biết điểm thi thổi sáo của Ngọc Phan được 5/5. Nhưng không có điểm thi năng khiếu, có nghĩa thí sinh bỏ môn này, không thi nên không đỗ. Ngọc Phan thưa là có thi và tự tin nói rằng làm tốt vì vượt qua tất cả các mức từ dễ đến khó, không sai chỗ nào. Tạ Phước nói sẽ xem lại, có gì sẽ báo sau.

Ngay sau đó, ông cho người xem lại thì đúng như lời Ngọc Phan khai, điểm thi năng khiếu cũng được 5/5. Do sơ suất mà bộ phận lên danh sách đã để sót điểm thi môn năng khiếu của Ngọc Phan. Vị Hiệu trưởng khả kính đã xin lỗi chàng trai 18 tuổi về sơ sót “chết người”. Suýt nữa thì để lọt một thí sinh đạt điểm cao tối đa, hứa hẹn một tài năng trong tương lai. Quá sung sướng, phấn khích, chàng tân khoa âm nhạc về khoe bố mẹ và khao bạn bè một bữa to.

Về Đài Tiếng nói Việt Nam làm việc, Ngọc Phan được biên chế trong đội ca nhạc dân tộc. Độc tấu hay ngồi thổi sáo trong dàn nhạc, ông đều làm hết mình. Tài năng mỗi lúc càng phát triển, không chỉ diễn tấu, ông tiến tới sáng tác nhiều tác phẩm cho sáo và các nhạc cụ dân tộc khác. Ngoài bản “Nhớ về Nam” (Lý hoài Nam) nhắc ở trên, ông còn có nhiều tác phẩm nổi tiếng khác như: “Cánh chim hòa bình”, “Ngày hội non sông”, “Mùa xuân biên phòng”, “Tiếng sáo bản Mèo”, “Gọi trăng”, “Tiếng sáo quê hương”, “Tiếng sáo gọi người yêu”…

NSƯT Ngọc Phan đang biểu diễn.
NSƯT Ngọc Phan đang biểu diễn.

Ngoài ra, ông còn viết nhạc cho chèo, cải lương. Tuy chỉ học sáo mà không học sáng tác nhưng Ngọc Phan thể hiện sự thông minh qua việc tự học hỏi kỹ thuật sáng tác và do chịu khó nghe nhiều mà những tác phẩm nhạc không lời viết cho sáo diễn tấu của ông đã rất có hiệu quả, được nhiều nghệ sỹ sáo sau này biểu diễn.

Những tác phẩm của Ngọc Phan rất được nhạc sỹ Nguyễn Văn Thương có cảm tình. Vị cố nhạc sỹ, nguyên là Hiệu trưởng Nhạc viện Hà Nội kiêm Giám đốc Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam này đã bỏ công tu chỉnh, nâng cao nhiều tác phẩm cho Ngọc Phan. Bản “Nhớ về Nam” mà thính giả vẫn nghe hôm nay đã có công đáng kể của Nguyễn Văn Thương. Lúc nghệ sỹ còn sống, có lần tôi hỏi ông: “Đầu đuôi thế nào mà bản nhạc nổi tiếng đó lại đứng tên cả hai người. Ai là người tạo ra trước để người còn lại nâng cao?”.

Rất chân thành, Ngọc Phan cho biết: “Mình chỉ đáng học trò Nguyễn Văn Thương, sao dám sửa lại của ông ấy. Lúc đầu, mình viết ra. Sau khi nghe, Nguyễn Văn Thương rất thích nhưng thấy một số chỗ có thể nâng cao cho hiệu quả hơn nên đã đề nghị làm việc đó. Ông ấy rất tế nhị và lịch sự hỏi ý kiến mình: “Phan cho phép mình nâng cao thêm chút ít, được không?”.

Tất nhiên là mình rất vui và thấy vinh dự được nhạc sỹ lớn, có tiếng tăm chú ý, tâm đắc với tác phẩm của mình. Thế là ông bắt tay sửa lại và viết thêm mấy chỗ. Rõ là hay hơn bản cũ của mình nhiều. Từ đó, ở đâu biểu diễn tác phẩm này đều được giới thiệu có sự liên danh hai tác giả. Mình đề nghị đề tên Nguyễn Văn Thương trước rồi mới là tên mình. Nhưng nhạc sỹ không đồng ý, yêu cầu để tên mình lên trước. Mình rất cảm kích cử chỉ này".

Không những biểu diễn giỏi mà Ngọc Phan còn say sưa suy nghĩ để tìm cách cải tiến, nâng cao hiệu quả diễn tấu của cây sáo dân tộc. Thành tựu đáng kể nhất của ông là đã mở rộng thêm âm vực của sáo bằng việc thêm 5 âm cao và 1 âm trầm, hoàn thiện sáo 6 lỗ thành 10 lỗ.

Tôi hỏi Ngọc Phan là hồi đầu khi bản nhạc “Nhớ về Nam” mới vang lên trên Đài có tên là “Lý hoài Nam”, vì sao về sau lại đổi là “Nhớ về Nam”? Ông kể lại kỷ niệm sâu sắc. Đó là khi được vào Phủ Chủ tịch biểu diễn văn nghệ phục vụ Bác Hồ. Nghe Ngọc Phan thổi sáo xong, Người rất khen rồi hỏi nghệ sỹ: “Sao không là “Nhớ về Nam” mà lại là “Lý hoài Nam” và sao không “Đi chơi xuân” mà lại là “Du xuân”? Rồi Bác căn dặn; “Tiếng Việt mình phong phú lắm. Không nên vay mượn tiếng nước ngoài. Nói năng, viết lách sao cho thật giản dị, dễ hiểu”. Từ đó, hai bản nhạc trên đã được đổi tên.

Dẫu sau này có thêm nhiều nghệ sỹ sáo trúc nổi tiếng khác, trong đó có những học trò của Ngọc Phan như Tiến Vượng, Đinh Linh, Vũ Thanh Hương… nhưng công chúng mãi không quên tiếng sáo tài hoa, giàu sức truyền cảm của một trong những tên tuổi nổi trội trong làng âm nhạc cổ truyền dân tộc. Ngọc Phan quả là rất xứng đáng với danh hiệu NSƯT được Nhà nước phong tặng ngay từ đợt đầu tiên.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.