“Ngậm ngùi” bài thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới

Như chúng ta đều biết, phong trào Thơ Mới thời tiền chiến xuất hiện từ năm 1932, tính đến nay vừa tròn 90 năm. Đó là một trong những phong trào thơ rầm rộ nhất, có nhiều nhà thơ lớn và nhiều tác phẩm thơ xuất sắc đi cùng năm tháng.

Câu chuyện này rất dài dòng và đây đó đã được nói đến khá nhiều, trong phạm vi bài báo nhỏ này, để làm công việc kỷ niệm Thơ Mới, tôi chỉ xin được dẫn ra một trong những bài thơ rất hay của nhà thơ Huy Cận, một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền Thơ Mới, với lời bình thưa thóang của tôi để thay cho một bài tiểu luận có thể phải rất dài dòng.

“Ngậm ngùi” bài thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới -0
Huy Cận và Xuân Diệu là hai nhà thơ xuất sắc của Phong trào Thơ Mới.

Xin mời các bạn cùng đọc:

"NGẬM NGÙI

Nắng chia nửa bãi, chiều rồi...
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu
Sợi buồn con nhện giăng mau
Em ơi! Hãy ngủ... anh hầu quạt đây
Lòng anh mở với quạt này
Trăm con chim mộng về bay đầu giường
Ngủ đi em, mộng bình thường
Ru em sẵn tiếng thuỳ dương mấy bờ…
Cây dài bóng xế ngẩn ngơ...
Hồn em đã chín mấy mùa thương đau
Tay anh em hãy tựa đầu|
Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi...
".

Có thể gọi "Ngậm ngùi" là "khúc ca ru của những cặp tình nhân". Bởi, trong bài thơ, ngoài vẻ đẹp lộng lẫy của ngôn từ, thì cái cảnh người con trai ru người tình của mình ở đây tuy cũng có dấu vết của thời khắc, cảnh trí đấy, nhưng tuyệt nhiên không thể xác định là diễn ra ở đâu, bao giờ. Người con gái nằm trên giường, ở trong nhà, hẳn thế, mà ta cũng có cảm giác như nàng nằm giữa trời đất, cỏ cây có thể có ở bất cứ nơi nào trên trái đất: một buổi chiều tà, bóng cây xế dài, ánh nắng đã chia nửa bãi, trong khu vườn hoang những cây trinh nữ đã xếp lá và những con nhện vẫn mải miết giăng tơ... Đấy là những cảnh vô cùng giản dị, bình thường và quen thuộc như hầu hết cảnh trí trong thơ Huy Cận, nhưng trong chốn thẳm sâu tâm hồn của những con người cũng thường tình và giản dị là chúng ta, chúng có sức gợi cảm và lay động kỳ lạ, cũng tựa như một tình yêu trần thế mà sức mạnh là chính ở chỗ nó gần gũi như cơm ăn nước uống:

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu

                                (Xuân Diệu)

Quả thật, cảnh trí tĩnh lặng, quạnh hiu, hoang vắng... đến nhoà nhạt ấy rất hợp với giấc ngủ: Chàng thi sĩ - tình nhân không chỉ cất tiếng ru và ngồi hầu quạt, chàng còn huy động đến cả thiên nhiên, tạo vật về đưa nôi cho người yêu ngủ. Trong hành vi của chàng không chỉ có sự âu yếm của tình yêu mà còn hơn thế - đó là cả sự trân trọng nâng niu của những tâm hồn đồng điệu khi đến với nhau, sự cảm thông chia sẻ giữa hai linh hồn cùng nặng trĩu đau thương, cùng cô đơn giữa cõi thế. Người con gái ở đây là cả một khối u buồn: "Hồn em đã chín mấy mùa thương đau". Hình như không phải nàng tìm đến một giấc ngủ thông thường, một phút nghỉ ngơi sinh học, mà nàng đang tìm kiếm một phút lãng quên, một giờ thư thái yên tĩnh, nó còn cao hơn cả một giấc ngủ. Có phải vì thế mà chàng trai cầu xin cho nàng một giấc mộng bình thường. Hai tiếng bình thường được dùng ở đây thật đáng kinh ngạc vì vẻ hiện đại của nó. Không phải là một giấc mơ đẹp, lại càng không phải là ác mộng. Con người hiện đại đã nhận thức được bản thể của mình: không phải là thánh thần, mà cũng chẳng phải là quỷ sứ hay thú vật - chúng ta đơn giản là những con người với tất cả những ưu điểm và bất cập của nó.

Trở lại với hai nhân vật của bài thơ - người con gái đang nằm kia là hiện thân của một khối buồn, và chàng trai thi sĩ cũng không khác thế, bởi họ cũng là một mối tình. Hãy xem tất cả cảnh trí được nhìn qua cặp mắt của chàng, nó mới ảm đạm làm sao: những từ buồn, sầu, rầu, ngẩn ngơ... chen nhau đậm đặc trong có 12 câu thơ. Hình như cứ mỗi danh từ chỉ ngoại cảnh lại phải gánh thêm một tính từ chỉ trạng thái buồn bã, hiu hắt. Nhưng thật lạ lùng là sự lạm phát những từ ngữ gần như trùng lặp nhau và có vẻ như cũ kỹ, mòn sáo ấy đặt vào đây lại nhập đúng hồn vía, hòa với dòng chảy tình cảm và giọng điệu riêng của bài thơ. Thêm vào đó là một từ "xế" vốn là một từ ruột của Huy Cận, được ông dùng đến rất nhiều và lần nào cũng thành công, chẳng hạn:

Khi lá rụng và hồn tôi đã xế

(Trình bày)

Và trăng lu xế nửa mái tình sầu

(Tình tự)

Nắng đã xế về bên xứ bạn

(Vạn lý tình)

Báo tin xấu, dẫn hồn người đã xế

(Nhạc sầu)

v. v và v. v…

Vốn là một từ dùng chỉ vị trí của mặt trời, mặt trăng để nói thời khắc sắp tàn của ngày, đêm, mà ngày - đêm, với ánh sáng có gì khác hơn là linh hồn, là sự sống của tạo vật, nên nhà thơ để cho biên giới của  khái niệm mở rộng đến vô cùng. Ấy là chưa nói, với những tâm hồn quá khát khao sự sống, cuống quýt với sự biến thiên của thời gian, nỗi vô thường của nhân thế, kiểu như "xuân đang đến nghĩa là xuân đang qua", thì tàn tạ cũng đồng nghĩa với cái chết, và xế cũng là hết, hoặc hơn cả thế nữa. Hai câu kết:

"Tay anh em hãy tựa đầu
Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi".

Một lần nữa sử dụng điêu luyện một trong những thủ pháp diễn đạt đã thành đặc sản của thơ Huy Cận - thủ pháp cụ thể hóa những gì trừu tượng bằng cách dùng những hình ảnh thay thế, chính xác và táo bạo: Con nhện giăng những sợi tơ buồn, lòng anh mở với quạt này, và nhất là cái hình ảnh đầy sáng tạo "trăm con chim mộng về bay đầu giường" (câu thơ gợi xa xôi đến hình ảnh "bầy ong trong đêm sâu" ra đời 30 năm sau của thi sĩ Lưu Quang Vũ).

Cũng như vậy, ở trên đã nói "hồn em đã chín" thì bắt xuống câu dưới "trái sầu rụng rơi" là một hệ thống hình ảnh nhất quán.

Bài thơ thoạt đầu là câu chuyện của tình yêu, nhưng rốt cuộc lại nói chuyện đời. Trên cả mối gắn bó giao hòa của tình yêu giới tính, đây là sự đoàn tụ, liên kết của hai con người yếu ớt, lẻ loi cùng chạy trốn cuộc đời lạnh lùng, buồn bã - không phải chỉ là chàng trai ngồi ru cô gái, chàng đang ru chính hồn mình, hay đúng hơn, cả hai mảnh đời ấy ru nhau. Tâm thế ấy ngẫm cho cùng cũng là thuộc bản chất của tình yêu muôn thuở.

Bài thơ đằm thắm, tinh tế này có thể tiêu biểu cho cả chất thơ, hồn thơ và giọng thơ Huy Cận, một tiếng lòng sâu thẳm của con người bé nhỏ, bất lực trước mênh mông tạo vật, trước những khao khát khôn cùng được sống, được yêu, được vươn đến cái tuyệt đích. Huy Cận đã động vào đáy sâu của cái mà triết học gọi là thân phận con người, nhưng chất triết lý có lẽ đã thấm vào máu thịt nên có thể chuyển hóa vào thơ một cách nhuần nhị, không hề khô cứng và giả tạo -  thứ triết lý bay lên trên đôi cánh của cảm xúc.

Cuối cùng, ta hãy thử so sánh hai câu kết trên đây với hai câu của Xuân Diệu  viết nhiều năm sau cách mạng:

"Vai anh khi để đầu em tựa
Cân cả buồn vui của một đời".

Ta thấy cả hai cặp câu có cùng một tứ, đạt đến cùng một tầm vóc tư tưởng: nghĩa là phần xác chúng rất giống nhau, tuy thế phần hồn, tức tâm thế và tình cảm, lại rất khác nhau: Hai câu trên của Huy Cận chỉ có một âm hưởng là buồn, còn hai câu của Xuân Diệu chỉ thêm một từ "vui", nhưng giữa chúng là khoảng cách mênh mông của cả một cuộc cách mạng. Vậy Ngậm ngùi là khúc ca của những cặp tình nhân muôn thuở hay một thuở? Tôi thực cũng không biết nữa. Tôi chỉ biết rằng những lúc buồn bã cô đơn nhất tôi đều tìm đến với bài thơ này. Bởi vì như người ta vẫn nói: Những cuộc cách mạng sẽ qua đi, cái còn lại vĩnh cửu là thế giới tình cảm của con người.

Anh Ngọc

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.