Mùa xuân, nhớ một nhạc sỹ tài năng

Cứ mỗi khi ngồi vào máy thực hiện bài vở cho các số báo Tết, tôi lại nhớ một chuyện có lẽ suốt đời không thể quên. Số là cách đây mấy năm, tôi nhận lời viết bài giới thiệu những ca khúc hay nhất về mùa xuân từ trước tới nay.

Vị Tổng biên tập tờ báo không quên lưu ý tôi: Chỉ giới hạn trong phạm vi ca khúc Việt Nam và của dòng văn nghệ cách mạng (tức là không gồm cả những bài hát về mùa xuân của các nhạc sỹ miền Nam vùng Mỹ- ngụy kiểm soát trước năm 1975). Một tuần sau ngày nộp bài, tôi phát hiện mình đã mắc "sai lầm chết người".

Đó là việc tôi đã quên hẳn, để bỏ qua một bài hát cực kỳ nổi tiếng về mùa xuân của một nhạc sỹ đoản mệnh, đồng thời là một liệt sỹ quá chói sáng về tài năng cũng như lòng yêu nước. Vâng. Đó là bài hát "Xuân và tuổi trẻ" của La Hối (1920-1945).

Có thể thế hệ sinh sau năm 1975 không biết bài hát này, không nghe tên tác giả. Nhưng những ai sinh ra và lớn lên từ trước Cách mạng Tháng Tám thì không thể không biết bởi là một tác phẩm rất nổi tiếng khiến nhiều người từng mê đắm ("Ngày thắm tươi bên đời xuân mới / Lòng đắm say bao nguồn vui sống / Xuân về với ngàn hoa tươi sáng / Ta muốn hái muôn ngàn đóa hồng…").

Nhạc sĩ La Hối.
Nhạc sĩ La Hối.

Thì ra, khi được vị Tổng biên tập tờ báo nọ lưu ý là giới thiệu ca khúc về mùa xuân trong dòng cách mạng, tôi đã chỉ chú ý đến những bài lâu nay vẫn thường xuyên được phát trên các làn sóng phát thanh, truyền hình, biểu diễn trên những sân khấu ngoài miền Bắc, đặc biệt là có nội dung gắn với thời cuộc, đậm chất chính trị, kiểu như "Cung đàn mùa xuân" (nhạc Cao Việt Bách; lời thơ Lưu Trọng Lư), "Một mùa xuân nhỏ" (nhạc Trần Hoàn; lời thơ Thanh Hải), "Xuân chiến khu", "Mùa xuân bên cửa sổ" (Xuân Hồng)…

Khi ấy, tuy cũng biết đến bài của La Hối và nghĩ là một ca khúc hay nhưng tôi không biết tác giả đã hy sinh trong phong trào hoạt động chống phát xít Nhật hồi trước Cách mạng Tháng Tám, lại thấy bài hát chẳng đả động gì đến thời cuộc nên tôi đã  cho qua. Sau đó ngẫm lại, tôi bèn nói tờ báo bổ sung "Xuân và tuổi trẻ" cùng đôi lời về người nhạc sỹ đoản mệnh. Báo đã vào nhà in nhưng thật may là vẫn còn đang "xếp hàng", chưa in. Biên tập viên đã kịp làm theo yêu cầu của tôi.

Một chuyện nữa: Năm 2016, tôi có dịp sang Thái Lan. Trong một chương trình biểu diễn đãi khách du lịch của những cô gái chuyển giới, có hát bài "Xuân và tuổi trẻ" của La Hối. Các cô đều xinh đẹp, cao như hoa hậu và hát rất đều, hay (tất nhiên là "hát nhép" vì các cô chỉ có thể múa theo hướng dẫn của biên đạo mà không biết hát).

Sau đó, tôi hỏi người dàn dựng chương trình (người Thái) là vì sao lại tìm đến bài của La Hối mà không là bài khác vì Việt Nam còn rất nhiều bài hay về mùa xuân. Người này nói: "Đó là một bài rất hay. Dân Thái Lan chúng tôi cũng nhiều người biết. Việt Kiều ở bên này rất nhiều. Ai cũng thích bài này. Hơn nữa, bài hát chỉ nói đến mùa xuân vui tươi, con người lạc quan, yêu đời, luôn phơi phới hướng đến tương lai, không có màu sắc chính trị gì".

Đêm biểu diễn đó có rất nhiều bài hát của nước Thái, thêm một số bài ngoại quốc khác. Bài hát của La Hối đã nổi bật, gây ấn tượng rất đặc biệt. Ai cũng thích thú. Người dàn dựng còn cho tôi biết bài này luôn có trong mọi chương trình do anh ta thực hiện.

Rõ là "Xuân và tuổi trẻ" tuy ra đời cách đây đã trên 70 năm (tác giả sáng tác năm 1944) nhưng đến nay vẫn còn nguyên giá trị, không bị mòn cũ theo thời gian. Hình như ca khúc này mang giá trị vĩnh hằng bởi ý nghĩa nhân văn, tính nhân loại của nó. Con người ở bất cứ đâu trên hành tinh này cũng đều hướng đến mùa xuân với tất cả những gì vui tươi, lạc quan, tốt đẹp nhất. Tiết tấu khoan thai, thong thả, điệu đà với nhịp ¾ (valse) quen thuộc khiến bài hát không quá xa lạ với lỗ tai người ngoại quốc. Đó cũng là yếu tố khiến bất cứ ai nghe cũng dễ có cảm tình.

Bài hát rất quen thuộc với nhiều thế hệ công chúng thế kỷ trước. Lớp cao tuổi ngày hôm nay lại trỗi dậy biết bao bồi hồi mỗi khi nghe lại bài này, đã sống lại dĩ vãng vàng son với nhiều kỷ niệm sôi nổi thời hoa niên. Tuy nhiên, đã không nhiều người tường tận về tác giả. La Hối sinh năm 1920 ở thành phố cổ Hội An (Quảng Nam), vốn là Hoa kiều nhưng các cụ trên ông mấy đời đã đến Hội An sinh sống.

Lúc nhỏ, ông là một cậu bé thông minh, ngoan ngoãn, học rất giỏi và có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc. Chỉ tự mày mò mà cậu chơi được nhiều nhạc cụ như măngđôlin, băngjô, ghita, pianô. 14 tuổi, cậu đã sáng tác bài hát. Lớn hơn một chút, cậu tập viết nhiều bản nhạc không lời để sau đó ban nhạc của cậu tập đàn với nhau.

19 tuổi, La Hối lập nên "Hội Yêu âm nhạc" (société philharmonique) và là Hội trưởng. Thành viên có thêm mấy đàn em được ông dìu dắt, sau đó cũng trở thành nhạc sỹ như Dương Minh Viên (tác giả bài "Du kích Ba Tơ"), Dương Minh Ninh (tác giả bài "Tự túc"), Trọng Nguyễn (tác giả bài "Nắng chiều"), Trương Đình Quang (nhà nghiên cứu âm nhạc)…

Văn bản bài hát của nhạc sĩ La Hối được xuất bản năm 1954.
Văn bản bài hát của nhạc sĩ La Hối được xuất bản năm 1954.

Đầu năm 1945, lúc này phát xít Nhật đã tràn sang nước ta, gây nhiều điêu linh, thống khổ cho đồng bào. La Hối chứng kiến giặc khủng bố, đàn áp đồng bào dã man đã vô cùng căm giận. Lòng yêu nước được kích thích, chàng đã gia nhập và trở thành một trong những người lãnh đạo một tổ chức chống Nhật ở Hội An. Chàng hoạt động sôi nổi, không sợ hy sinh, bất chấp giặc giăng lưới bắt mình, đã cùng đồng đội in truyền đơn rồi rải khắp nơi để tuyên truyền ý thức chống Nhật, phá đường để ngăn cản bước tiến của giặc và đánh bom, tập kích trại lính Nhật khiến chúng rất hoảng sợ.

Tháng 5/1945, La Hối cùng 10 đồng đội bị Hiến binh Nhật bắt, tra tấn dã man rồi xử bắn. 11 chiến sỹ cảm tử bị chúng chôn chung một mộ tại chân núi Phước Tường (Ngày nay, ngôi mộ này đã được chính quyền cải táng và di dời về nghĩa trang dành cho những người chống phát xít Nhật ở Hội An). La Hối ngã xuống trên mảnh đất mình sinh ra lúc mới 25 tuổi, bỏ lại nhiều mơ ước, dự định về âm nhạc.

La Hối sáng tác nhiều, phần lớn xoay quanh chủ đề mùa xuân, tuổi trẻ, tình yêu, học đường, nhưng bị giặc Nhật tịch thu hết văn bản. Một số bài sau khi hoàn thành, ông đã trao cho người tình cất giữ. La Hối mất, gia đình quá đau buồn, không còn nghĩ đến người con gái được ông yêu thương và nhờ cất giữ những bản nhạc. Về sau chỉ còn lại mấy bản thảo ca khúc, trong đó có "Xuân và tuổi trẻ". Bài này La Hối sáng tác năm 1944 khi đang bị Nhật ráo riết săn lùng.

Trong hoàn cảnh phải ẩn náu và đối phó với âm mưu của giặc cùng rất nhiều lo toan khác, ta vẫn thấy tác phẩm toát lên niềm ung dung, thanh thản, tự tại và đầy hứng khởi, lạc quan về mùa xuân và cuộc sống. Đủ thấy La Hối tuy còn rất trẻ nhưng đã sâu sắc, chín chắn và tràn đầy bản lĩnh thế nào.

Lúc đầu, "Xuân và tuổi trẻ" có nhan đề  Pháp ngữ là "Printemps et la jeunesse" và được một người gốc Hoa đặt lời bằng tiếng Hoa. Đến đầu năm 1946, Đoàn kịch Anh Vũ gồm các văn nghệ sỹ tên tuổi như Thế Lữ, Nguyễn Xuân Khoát, Văn Chung, Bùi Công Kỳ… đến Hội An biểu diễn.

Vốn đã biết và ưa thích "Xuân và tuổi trẻ", lại biết tin La Hối đã hy sinh, cảm kích tấm gương quả cảm của tác giả bài hát, nhà thơ kiêm kịch sỹ Thế Lữ (1907 - 1989) bèn xin phép gia đình nhạc sỹ được đặt lời mới. Thế là ca từ bằng Việt ngữ ra đời, rất hài hòa, nhuần nhuyễn với giai điệu. Sau đó, Nguyễn Xuân Khoát phối hòa âm, Văn Chung biên đạo vũ điệu, Thế Lữ  (Trưởng đoàn Anh Vũ) tổng đạo diễn. Ca khúc được dàn dựng công phu và ra mắt công chúng ở Nhà hát Phan Hương tại Hội An chỉ sau đó 1 tuần, nhận được sự tán thưởng nhiệt liệt của bà con phố cổ. 

Ngoài "Xuân và tuổi trẻ", La Hối còn có một số bài hay nữa là "Thanh niên tiến hành khúc", "Xuân sắc quê hương", "Gió thiêng liêng"… Ngoài chủ đề tình yêu, một âm hưởng được biểu hiện dào dạt trong nhiều ca khúc của ông là cảm hứng yêu nước, chí khí của tuổi trẻ. Ta hãy nghe lời của bài "Gió thiêng liêng": "Lời đất nước gieo niềm tin/ Gió lên kia rồi/ Gió thiêng liêng bừng chí thanh niên/ Lời đất nước giục lòng ta…".

Nhiều người cho rằng nhạc của La Hối có giai điệu đẹp, trong sáng, lạc quan, lại được ra đời trong hoàn cảnh ông hoạt động chống Nhật khá căng thẳng như ta đã thấy. Vậy phải có một "động lực". Ngoài lòng yêu nước, căm thù giặc, ắt còn là một tình yêu luôn rạo rực trong trái tim chàng trai trẻ mới ngoài 20 tuổi. Vốn bản tính kín đáo, ít nói, người ta chỉ biết ông có tình yêu với một cô gái dạy đàn pianô ở Hội An mà không thể biết rõ gì hơn. Sau khi La Hối qua đời, cô gái đi đâu, ra sao, có còn sống đến ngày hôm nay không hay qua đời khi nào, không ai biết.

Nếu La Hối không ra đi qua sớm, nền âm nhạc chúng ta hẳn là sẽ còn có nhiều trước tác của người nhạc sỹ tài hoa, giàu lòng yêu nước. Nhưng ông sẽ sống mãi trong tâm khảm những người yêu âm nhạc. Không biết tại Hội An có đường phố nào mang tên ông?

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.