Một thoáng giữa âm nhạc Beethoven và thi ca Việt

Bản giao hưởng số 5 của nhà soạn nhạc thiên tài người Đức - Ludwig van Beethoven thường được gọi là Bản giao hưởng “Định mệnh” khi gửi tới nhân loại một thông điệp sâu xa về cuộc đối đầu giữa con người và số phận, giữa bóng tối khổ đau và khát vọng chiến thắng.

Bản giao hưởng này là tiếng gọi của số phận, rất gần với chính ông, một thiên tài khi đang phải đối diện với bi kịch bị điếc dần, vào lúc Beethoven rơi vào sư åkhủng hoảng tinh thần sâu sắc nhất.

nh-c si thiên tài beethoven.jpg -0
Nhạc sĩ Beethoven.

Bản giao hưởng được ông sáng tác trong giai đoạn châu Âu đầy biến động bởi chiến tranh Napoleon. Vì thế, bản giao hưởng “Định mệnh” không chỉ là tiếng kêu của cá nhân, mà còn là tiếng vọng của thời đại, nơi con người bị ném vào lịch sử với những thử thách khắc nghiệt. Điều cốt lõi mà Bản giao hưởng số 5 nói lên không phải là sự đầu hàng, mà là tinh thần phản kháng quyết liệt. Beethoven không chấp nhận số phận như một định mệnh an bài. Ông đối thoại, thách thức và cuối cùng là vượt qua nó.

Cảm thức định mệnh trong thơ ca Việt Nam

Điều đáng nói, trong thi ca Việt Nam, dường như bản “Giao hưởng của định mệnh” cũng là trường thẩm mỹ nhân văn sâu sắc và phổ quát trong khá nhiều tác phẩm - tác giả văn học nổi tiếng. Khi nghe bản giao hưởng số 5 của Beethoven, chúng ta có thể liên tưởng đến thi hào Nguyễn Du, một con người đã sống trọn đời trong ý thức về định mệnh, về “nghiệp” và “đoạn trường”, nhưng chưa bao giờ thôi yêu thương con người.

Ở đấy, “định mệnh” không hiện ra như một khái niệm trừu tượng, khô cứng, mà thấm sâu vào số phận con người qua nỗi buồn nhân thế, ý thức về kiếp người mong manh và khát vọng vượt thoát. Đó là một cảm thức vừa mang dấu ấn tư tưởng phương Đông, vừa kết tinh từ những trải nghiệm lịch sử đầy biến động của dân tộc.

ð-i thi hào nguy-n du.jpg -2
Thi hào Nguyễn Du.

Trong thơ ca trung đại, cảm thức định mệnh thường gắn với quan niệm thiên mệnh, nghiệp báo, vô thường. Con người cảm nhận mình là một phần nhỏ bé trong trật tự vũ trụ. Nguyễn Du là đỉnh cao của cảm thức ấy khi ông viết trong"Truyện Kiều":

Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa

Hoặc:

Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Định mệnh ở đây mang dáng dấp nghiệt ngã và bất khả cưỡng, đè nặng lên thân phận con người, đặc biệt là người phụ nữ tài sắc. Nhưng chính trong sự thấu hiểu nỗi đau ấy, thơ Nguyễn Du bộc lộ lòng nhân đạo sâu sắc khi con người ý thức được số phận để biết đau, biết thương, biết phản tỉnh.

Nguyễn Du không viết về định mệnh bằng những câu hỏi lớn. Ông viết bằng sự lặng lẽ chịu đựng. “Đã mang lấy nghiệp vào thân…”, câu thơ ấy giống như một tiếng thở dài hơn là một lời kết án. Nó không quyết liệt như âm nhạc Beethoven, nhưng lại có sức nặng lâu dài.

Nếu Beethoven đối đầu với số phận bằng bản nhạc dữ dội liên hồi, thì Nguyễn Du đối diện với nó bằng ánh nhìn thấu suốt, một thứ ánh nhìn khiến bi kịch trở nên có ý nghĩa. Ở chương đầu của Giao hưởng số 5, âm nhạc căng thẳng như một vòng vây không lối thoát. Trong "Truyện Kiều", Nguyễn Du cũng dựng lên một thế giới mà ở đó con người bị ném vào những hoàn cảnh nghiệt ngã khi tài sắc đi cùng tai ương, yêu thương luôn song hành với chia lìa.

Nhưng điều xúc động là cả Beethoven lẫn Nguyễn Du đều không dừng lại ở việc phơi bày nỗi đau. Họ đi xa hơn, họ buộc người nghe, người đọc phải đối diện với nỗi đau ấy. Nguyễn Du không kêu gọi lật đổ định mệnh. Ông không hô hào chiến thắng. Nhưng chính sự không gào thét ấy lại khiến thơ ông trở nên bền bỉ. Cũng như Beethoven, người không hề phủ nhận bi kịch điếc của mình, mà biến nó thành một động lực sáng tạo khủng khiếp. Ở cả hai con người ấy, có một điểm chung khiđịnh mệnh không thể làm họ câm lặng, nó khiến họ cất tiếng nói sáng tạo sâu sắc hơn, nhân văn hơn.

Khi Giao hưởng số 5 đi đến chương cuối, âm nhạc bỗng mở ra một không gian sáng hơn, mạnh mẽ hơn. Không phải ánh sáng của dễ dãi, mà là ánh sáng sau khi đã đi qua bóng tối. Đọc"Truyện Kiều"đến những câu cuối, người đọc cũng có một cảm giác tương tự. Kiều trở về sau 15 năm lưu lạc, không còn nguyên vẹn, nhưng vẫn sống. Đó không phải là hạnh phúc trọn vẹn, mà là sự tồn tại sau đoạn trường với một chiến thắng thầm lặng trước số phận.

Có người nói Nguyễn Du là nhà thơ của nước mắt. Nhưng ông còn là nhà thơ của phẩm giá con người trong đau khổ. Cũng như Beethoven không để âm nhạc mình chìm trong bi lụy, Nguyễn Du không để bi kịch trở thành tuyệt vọng. Ở họ, định mệnh là một lực lượng khắc nghiệt, nhưng con người vẫn giữ quyền được đau một cách cao quý. Có lẽ, đó chính là điểm gặp gỡ sâu xa nhất giữa âm nhạc và thi ca khiđịnh mệnh có thể lấy đi nhiều thứ, nhưng không thể lấy đi nhân tính. Và khi con người còn giữ được nhân tính ấy, họ vẫn còn khả năng đối thoại với số phận dù trong im lặng hay trong âm thanh vang dội.

Sáng tạo để vượt lên bi kịch bất hạnh của số phận

Nhạc sĩ Beethoven sáng tác trong bi kịch bị điếc như một định mệnh khắc nghiệt đối với người nhạc sĩ. Nhưng chính khi thế giới âm thanh bên ngoài khép lại, thế giới nội tâm của ông lại mở ra với sức mạnh dữ dội. Ở điểm này, ta có thể thấy Beethoven vô tình gặp Hàn Mặc Tử, thi sĩ đã phải sống và sáng tạo trong sự tàn phá của bệnh tật.

Định mệnh đến với Hàn Mặc Tử không như một biến cố, mà như một án định toàn phần. Thân xác đau đớn, đời sống bị cô lập, nhưng thơ ông không dừng lại ở tiếng kêu tuyệt vọng. Ngược lại, nó bùng cháy trong cơn khát cứu rỗi với hình tượng: Trăng, Chúa, tình yêu, cái đẹp, tất cả hiện lên như những điểm tựa tinh thần để vượt qua thân phận bị giam cầm.

Ở đây, cảm thức định mệnh không bị phủ nhận, mà đượcthăng hoa thành khátvọng siêu thoát. Giống như Beethoven không chịu im lặng trước số phận điếc, Hàn Mặc Tử không chịu tan rã trong đau đớn. Cả hai đều cho thấy, khi con người bị đẩy đến giới hạn cuối cùng, nghệ thuật trở thành con đường cứu rỗiduy nhất.

Bản giao hưởng số 5 của Beethoven nói lên tiếng nói bất tử của con người trước số phận, một tiếng nói đau đớn nhưng kiêu hãnh, bi tráng nhưng không tuyệt vọng. Với phong trào Thơ mới mà nhà thơ Hàn Mặc Tử là một đỉnh cao, cảm thức định mệnh chuyển từ  “trời - mệnh” sang bi kịch bản thể cá nhân. Con người không còn phó mặc hoàn toàn cho trời đất, nhưng lại rơi vào trạng tháihoang mang, lạc lõng trước thời gian và cái chết. Hàn Mặc Tử cảm nhận định mệnh như một vết thương tồn sinh, nơi thể xác bệnh tật và linh hồn khao khát cứu rỗi:

Ai mua trăng tôi bán trăng cho
Không bán tình duyên ước hẹn hò

nhà tho hàn m-c t-.jpg -1
Nhà thơ Hàn Mặc Tử.

Nghe bản giao hưởng “định mệnh” của Beethoven, ta luôn có cảm giác âm nhạc ấy được viết ra từ một thân thể bị tật bệnh giới hạn. Khi tai Beethoven dần khép lại với thế giới, âm nhạc của ông lại mở ra một không gian nội tâm khốc liệt hơn bao giờ hết. Ở điểm ấy, ta gặp Hàn Mặc Tử, người thi sĩ mà số phận đã buộc phải sáng tạo trong đau đớn tận cùng của thân xác.

Với Hàn Mặc Tử, định mệnh đến với ông bằng bệnh tật, bằng nỗi cô đơn cùng cực. Nhưng lạ thay, cũng giống như Beethoven, một người sáng tác khi tai đã dần khép lại với thế giới thì Hàn Mặc Tử không im lặng. Thơ ông bật lên như một tiếng kêu vừa đau đớn vừa thánh thiện. Trong khoảnh khắc ấy, ta chợt hiểu rằng định mệnh đôi khi không nhằm hủy diệt con người, mà buộc con người phải nói ra phần sâu kín nhất của mình.

Trong bài thơ “Trút linh hồn”, Hàn Mặc Tử tự sự: “Máu đã khô rồi, thơ cũng khô/ Tình ta chết yểu tự bao giờ/ Từ này trong gió-trong mây gió/ Lời thảm thương rền khắp nẻo mơ”.

Nếu Beethoven đối diện định mệnh bằng tiếng nhạc dữ dội, thì Hàn Mặc Tử đối diện nó bằng cơn sốt thi ca. Bệnh tật không đến như một tai nạn đơn lẻ, nó trở thành định mệnh toàn phần, chiếm lĩnh thân thể, tâm trí, và cả ngôn ngữ. Nhưng điều kỳ lạ là thơ Hàn Mặc Tử không chìm trong tuyệt vọng thuần túy. Nó bốc cháy.

Ở những đoạn cao trào của Giao hưởng số 5, âm nhạc dồn ép đến nghẹt thở, như thể con người bị đẩy tới bờ vực cuối cùng. Thơ Hàn Mặc Tử cũng vậy. Nhưng chính ở nơi tưởng như không còn lối thoát ấy, ông lại gọi tên trăng, gọi tên Chúa, gọi tên tình yêu. Định mệnh ở đây không bị phủ nhận, mà được vượt qua bằng niềm tin cứu rỗi.

Hàn Mặc Tử không thắng số phận bằng lý trí, mà bằng cơn khát siêu thoát. Cũng như Beethoven không chấp nhận im lặng, dù thế giới âm thanh bên ngoài đã rời bỏ ông. Cả hai đều cho thấy, khi thân xác bị khóa chặt, tinh thần có thể bay xa hơn bao giờ hết.

Từ sự liên tưởng giữa bản Giao hưởng số 5 “Định mệnh” của nhạc sĩ thiên tài Beethoven với trường thẩm mỹ “Định mệnh” trong thi ca Việt Nam nói trên, ta có thể thấy một phần nào đó tiếng nói bất tử trong văn hóa - nghệ thuật của con người trước số phận như một tiếng nói đau đớn nhưng kiêu hãnh, bi tráng nhưng không tuyệt vọng. Đó là bản anh hùng ca của ý chí, nơi nghệ thuật trở thànhvũ khí tinh thầnđể con người tự khẳng định mình trước định mệnh nghiệt ngã.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.