Một người hiện đại cổ xưa

Tự học vẽ và ra mắt triển lãm tranh ở tuổi 74, với 74 tác phẩm, 13 năm sau, năm 2010, ở tuổi 87, cụ bà Lê Thi (quê gốc Thanh Hóa, hiện sống ở Hà Đông) lại ra mắt tiểu thuyết dày hơn 300 trang với tên gọi “Ngược dòng”. Đã có những bài viết về bà, nhưng ít ai trả lời thật tường tận câu hỏi: Vì lí do gì một bà lão ở tuổi “bát thập cổ lai hi” lại bước vào thế giới nghệ thuật một cách say mê như vậy?

Biến cố cuộc đời

Bà Lê Thi tự nhận mình là bà còng Xa La, nay đã 94 tuổi. Bà mới dừng vẽ vài năm nay, hàng ngày bà vẫn ăn trầu, đọc và viết nhật ký cá nhân trên laptop. Sau khi trải - gói 34 năm cuộc đời trong tiểu thuyết đầu tay, bản thảo viết về 60 năm sau của cuộc đời bà lại được mở ra, tiếp nối.

Những trang đánh máy tiếng Việt chưa tròn chính tả, không thật đúng về chấm, phẩy, dấu cách hay viết hoa nhưng bao chứa tấm lòng, tâm hồn và một khao khát “tiếc cho cái tâm tư của mình mà không biết gửi gắm vào đâu được”.

“Tiếc cho tâm tư của mình” là một cái tiếc đẹp. Nhất là khi con người ở độ tuổi thấu hiểu quy luật sinh tử ở đời. Nó đẹp, bởi vì người ta còn tha thiết sống, tha thiết được nói lên tiếng nói của mình - một kiếp người hữu hạn, bổng trầm nhưng chứa cả hơi thở của thời đại.

Bà Lê Thi sinh ra trong một gia đình có nhiều anh chị em. Mẹ bà là vợ sau của một ông quan tri huyện thời Nguyễn. Thuở nhỏ, bà Lê Thi đã được theo cha đến Nghệ An, Quảng Trị khi ông nhận việc. Lớn lên một chút, bà được cùng mẹ ra Hà Nội ở nhà người bác. Sau này về lại Thanh Hóa, cách mạng lên, bà Lê Thi hồ hởi nhập vào dòng người mang trong mình niềm tin về một cuộc đời mới đổi thay để trở thành một người tuyên truyền nhiệt huyết. 

Cụ bà Lê Thi vẫn đều đặn sáng tác trên laptop của mình.
Cụ bà Lê Thi vẫn đều đặn sáng tác trên laptop của mình.

Cuộc đời mà ở đó không còn những số phận bi thảm của người lao động như bà từng chứng kiến. Không còn ông mõ đầu làng, sau trận ốm chưa hồi vì phải kiếm ăn đã gắng chở thuê một cây gỗ. Trong khi đứa con trai kéo xe lên dốc, ông đẩy phía sau thì “thằng con tuột tay, cây gỗ thúc ngược vào ngực ông bố” khiến ông bố chết ngay tại chỗ. Không còn hình ảnh một người con gái luống tuổi, con nuôi của người chú, ngày ngày lầm lũi với con trâu, nhẫn nhịn đòn roi chỉ vì “ao ước được đi lấy chồng và có tấm áo lụa nâu”.

Cho nên dễ hiểu, một con người như bà có thể từ bỏ cả quá khứ và vị thế từng có của mình để đi theo cách mạng với một niềm tin đẹp đẽ, trong sáng. Dù sau này, sống trong thời cuộc bị đem ra đấu tố, bà vẫn nhớ: Chính những người nông dân ban ngày đấu tố do quá sợ hãi “ôm chân địa chủ”, ban đêm lại “đem cơm cho ăn”. Người tránh nói chuyện với mình, lại lấy cớ mua chổi để dúi cho ba đồng bạc, bảo “đem về mà làm ăn. Lúc nào có thì giả, không thì thôi cũng được”.

Bà Lê Thi nói rằng bà đã trả đến đồng nợ cuối cùng, đến chết không còn nợ ai, nhưng “nợ đồng tiền thì giả được, nợ ân tình thì khó giả”. Cái tình và niềm tin tưởng của bà trước sau đều không thay đổi.

Sức mạnh của tình yêu và nghệ thuật

Những thay đổi đến-đi, được-mất quá nhanh trong cuộc đời hoàn toàn có thể làm người ta trở nên hoảng loạn. Điều gì đã làm cho bà bình tâm? Có lẽ đó chính bởi sức mạnh của tình yêu như Trịnh Công Sơn từng nói: “Ta là ai mà yêu quá đời này”. Cuộc đời đã cho bà một người chồng tài năng, với một tâm hồn đẹp (ông có tài xuất khẩu thành thơ). Nhưng trận bom năm 1950 đã lấy đi mạng sống của ông khi họ vừa lấy nhau được 17 tháng.

Trở thành góa bụa ở tuổi 27, một mình xoay xở nuôi đứa con mới vừa 7 tháng, điều gì đã ngăn bà không đi bước nữa? Sự lãng mạn của một tâm hồn thấm đẫm thơ văn trước cách mạng bà từng đọc hay quan niệm về tam tòng, tứ đức của xã hội phong kiến đã ăn sâu?

Với bà, chỉ vì “không tìm thấy một người nào để yêu như bà đã yêu chồng bà”. Vì đi bước nữa “lại phải sinh con mà không đành lòng khi trong anh em, đứa có bố, đứa không có bố”, dù nhà chồng khuyên nhủ “con còn đầu xanh tuổi trẻ”. Lòng bà đa mang, “cái tình cảm đối với nhà chồng, với anh chị em nhà chồng, với anh chị em mình nó nặng gánh, không trút cho ai được, cứ ở một mình mà gánh, gánh mãi cho đến bây giờ”.

Nhưng bà đã tìm được chỗ dựa tinh thần cho cuộc đời mình, trong tình yêu với những trang sách, những bức tranh. Không được đi học, dù là con quan, bà tự học chữ để đọc các loại báo “Tiểu thuyết thứ năm”, “Tiểu thuyết thứ bảy”, “Phong hóa”, “Ngày nay”; các loại truyện “Nửa chừng xuân”, “Gánh hàng hoa”, “Hồn bướm mơ tiên”; để cảm hồn thơ những Thế Lữ, Huy Cận, Xuân Diệu… và viết nên những câu thơ riêng cho mình.

Cũng như tình yêu với cuộc đời, tình yêu văn học, nghệ thuật của bà không lay chuyển. Có thể ban đầu đó chỉ là sở thích mang tính cá nhân. Có thể một thời nó đã lẩn vào đâu đó trong đời sống khốn khó mưu sinh. Nhưng một ngày, nó lại đưa bà trở về với hồi ức, với khao khát ghi và giữ lại tình yêu cho đời sau thông qua tranh và trang sách.

“Cả một đời người hay cả kiếp nhân sinh nó cũng như đất, như đá, như núi, như sông. Có người hỏi sao tôi hay vẽ đá. Tôi bảo đá nó cũng có cuộc sống của nó, có hòn trong lòng núi, có hòn phơi trên đỉnh núi, có hòn nằm dưới sâu, có hòn đứng chênh vênh hàng trăm năm không đổ”.

Nghệ thuật chính là không gian giãi bày để bà bước vào, khi con cháu lớn lên với những lo toan cuộc sống riêng và dần trở nên xa cách. Nhưng chính nghệ thuật, “chính bức vẽ đã cuốn hút bà” để vẽ tiếp những bức tranh khác.

Bà vẽ rất nhanh, “lúc vẽ chỉ còn biết nét vẽ thôi, là tập trung, quên hết”. Còn viết thì “phải lao tâm, khổ tứ”, phải đọc, “phải lựa từng chữ một, làm sao cho ngắn gọn mà nói hết được tấm lòng mình”. Cho nên không gian tưởng như rất riêng tư đó lại chính là không gian mở ra của tâm hồn. Nó cho phép người ta được kết nối với những tâm hồn khác thông qua trung gian là các tác phẩm mình được tiếp nhận và sáng tạo. Nó là một minh chứng cho người ta tin, con người có tuổi còn khát vọng nghệ thuật thì nghệ thuật không giới hạn bất cứ ai tìm đến vẻ đẹp của nó để tâm hồn trở nên đẹp đẽ hơn, để sống trọn vẹn cuộc đời mình.

Trải qua đủ nghề: từ kéo sợi, cán bông, đan áo, cắt may, làm bánh, lát sân, xây nhà… dành dụm nuôi con, chăm cháu, bà nói rằng con cháu giỏi giang hơn mình. Nhưng mỗi người ai cũng có “bản thân và bản phận” trong cuộc đời phải lo cho tròn. “Muốn lo cho tròn thì phải tu cái thân mình, phải học tập, phải suy nghĩ chọn việc đúng mà làm”.

Người phụ nữ cổ xưa chưa từng một ngày được đi học đã nói rằng, bất kể ai cũng phải lo cho tròn, không ngoại lệ bản thân mình: “Cũng phải tu thân dù ngấp nghé miệng lỗ rồi, không sửa được với bố mẹ thì lấy thân ra mà sửa với con, với cháu”.

Bà đã sống an nhiên tự tại như vậy với tình yêu của đời mình với văn chương nghệ thuật. Một tình yêu đủ lớn và dài rộng để bà ôm trọn và khỏa lấp cái tình riêng dang dở ở tuổi xuân thì.

Hải An

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...