Món nợ văn học với chiến tranh biên giới Tây Nam

Hàng năm cứ đến ngày 7-1, các cựu binh chiến trường Campuchia, trong đó có những người cầm bút thường gặp gỡ nhau. Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và tình nguyện làm nghĩa vụ quốc tế giúp nước bạn thoát khỏi tai họa diệt chủng có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XX, trở thành chất liệu, nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm văn học có giá trị đã và đang ra đời, nhưng chẳng hiểu vì sao ít nước nhắc đến...

Đúng 37 năm trước, ngày 7-1-1979, Quân đoàn 4 do tướng Tư lệnh Hoàng Cầm chỉ huy đã tiến vào đánh chiếm thủ đô Phnôm Pênh, sát cánh cùng các cánh quân khác lần lượt giải phóng đất nước bạn Campuchia thoát khỏi ách diệt chủng tàn bạo của tập đoàn Pol Pot - Ieng Sary. Cùng tham gia chỉ huy Quân đoàn 4 còn có Phó Tư lệnh Bùi Cát Vũ, một chiến tướng đồng thời là nhà văn, mà thiên ký sự nóng hổi khói lửa chiến trận "Đường vào Phnôm Pênh" của ông đặt một dấu mốc quan trọng cho văn học viết về chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và người lính tình nguyện trên chiến trường K gian khổ, khốc liệt trong gần 15 năm.

Vào thời điểm ấy, từ TP Hồ Chí Minh có ba nhà văn cựu quân nhân từng tham gia đánh Mỹ, đang ổn định công tác dân sự, đã tình nguyện khoác áo lính trở ra chiến trường. Một người sắp tuổi ngũ tuần là Thanh Giang quê Bến Tre. Hai người còn lại khá trẻ, tuổi chưa tới ba mươi: Trần Văn Tuấn và Văn Lê đều gốc Bắc nhưng sớm gắn bó với Sài Gòn - Nam Bộ. Ba người được bổ sung vào đội hình Quân khu 7, hợp cùng lực lượng đông đảo các nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ tiếp tục ra trận tuyến mới như: Thu Bồn, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Ngân Vịnh, Anh Ngọc, Nguyễn Chí Trung, Lê Lựu, Mai Ngữ, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Khắc Phục, Trung Trung Đỉnh, Khuất Quang Thụy, Quang Chuyền, Đỗ Văn Nhâm, Nguyễn Hồ, Lam Giang, Trần Thế Tuyển,…

Thành phố Siêm Riệp của Campuchia hồi sinh từ đổ nát. Ảnh: P.H.
Thành phố Siêm Riệp của Campuchia hồi sinh từ đổ nát. Ảnh: P.H.

Và từ chiến trường Campuchia, một đội ngũ các cây bút trẻ cũng đã xuất hiện và lần lượt khẳng định mình: Phạm Sỹ Sáu, Lê Huy Khanh, Nguyễn Quốc Trung, Đỗ Viết Nghiệm, Thành Nguyễn, Huỳnh Kim, Cao Vũ Huy Miên, Lê Minh Quốc, Đoàn Tuấn, Lê Mạnh Tuấn, Bùi Thanh Minh, Trần Thế Vinh, Nguyễn Thành Nhân, Sương Nguyệt Minh, Trần Trí Thông, Lương Hữu Quang, Nguyễn Trung Nguyên, Nguyễn Vũ Quỳnh,… Ngoài ra, còn có nhiều nhà văn khác từ hậu phương đi công tác hoặc thực tế ngắn hạn sang nước bạn, cùng tạo nên một lực lượng hùng hậu các thế hệ cầm bút tham gia sáng tác về chiến tranh biên giới Tây Nam.

Giống như hai cuộc kháng chiến trường kỳ trước đó, thơ là tiếng nói kịp thời và mạnh mẽ nhất của người lính cất lên từ khói lửa chiến tranh và nhanh chóng "bay" về hậu phương. Sớm nhất và có nhiều tác động là những bài thơ nóng bỏng và hào sảng của người lính trẻ mang hồn thi sĩ Phạm Sỹ Sáu như: Hành tráng sĩ mới, Ra đi từ thành phố, Điểm danh đồng đội, Gửi bạn bè làm xong nghĩa vụ, Với Poi Pet mùa mưa… gây xúc động, góp phần động viên nhiều thanh niên tiếp tục lên đường ra trận.

Có thể nói Phạm Sỹ Sáu là gương mặt thơ tiêu biểu nhất cho thế hệ thứ ba của những nhà thơ mặc áo lính. Đối với thế hệ đàn anh đi trước nổi bật là nhà thơ Thu Bồn, tiếp tục bằng những trường ca mang âm hưởng sử thi hùng tráng: Campuchia hy vọng, Oran 76 ngọn,…mà bây giờ đọc lại vẫn lôi cuốn, day dứt khôn nguôi.

Về văn xuôi, ngoài thiên ký sự Đường vào Phnôm Pênh cùng một số truyện ký của Thiếu tướng - nhà văn Bùi Cát Vũ, thì nhiều tác phẩm của các cây bút khác cũng đã ra đời trong và một thời gian ngắn sau cuộc chiến. Những truyện ngắn sinh động ghi dấu ấn bấy giờ mà nhiều người còn nhớ như: Sự sống còn lại của Trung Trung Đỉnh, Mùa khô này có một dòng suối trong của Nguyễn Chí Trung, Em bé câm trước đền Angko của Lê Lựu, Anh ấy không đơn độc của Văn Lê, Biển Hồ yên tĩnh của Mai Ngữ, Khô Chănđara của Đỗ Viết Nghiệm, Chăn tha của Trần Thùy Mai, Chuyện ở Pai Lin của Dạ Ngân,... cùng nhiều truyện ngắn của Thanh Giang và Trần Văn Tuấn.

 Đặc biệt, cuộc chiến biên giới Tây Nam trở thành đề tài cho nhiều thiên tiểu thuyết, không chỉ ra đời ngay trong lòng cuộc chiến mà đến nay vẫn là mạch nguồn cảm hứng cho nhiều nhà văn lặng lẽ sáng tác: Dòng sông của Xô Nét của Nguyễn Trí Huân, Chiến tranh không phải trò đùa của Khuất Quang Thụy, Dòng sông nước mắt của Thanh Giang, Ngôi chùa ở Pratthana và Khoảng rừng có những ngôi sao của Văn Lê,.. cùng 4 tác phẩm của Nguyễn Quốc Trung: Biên giới, Bên rừng thốt nốt, Người khóc mướn, Đất không đổi màu.

Angkor Wat từ cứ điểm quân sự đã được phục dựng thu hút đông đảo du khách. Ảnh: PH..
Angkor Wat từ cứ điểm quân sự đã được phục dựng thu hút đông đảo du khách. Ảnh: PH..

Chưa hết, những nhà văn trực tiếp cầm súng trên chiến trường K, bằng trải nghiệm và độ lùi thời gian để đúc kết, gần đây vẫn tiếp tục trình làng những tiểu thuyết đáng chú ý như Mùa xa nhà của Nguyễn Thành Nhân, Bên dòng sông Mê của Bùi Thanh Minh,… và mới nhất là Miền hoang của Sương Nguyệt Minh xuất bản cuối năm 2014.

Cuộc chiến tranh nào cũng bi kịch đau thương. Với cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam và giúp nước bạn Campuchia càng bi thương hơn khi phía sau là hậu phương đang hưởng thụ không khí yên bình nhưng bước sang bên kia những cánh rừng biên giới là đối diện với cái chết rình rập. Cuộc đấu tranh ngay trong chính tư tưởng của mỗi gia đình và bản thân mỗi người lính rất khốc liệt, nó còn khốc liệt hơn khi đối mặt với kẻ thù, nó khác với thời cả nước cùng ra trận trong hai cuộc kháng chiến về trước.

Không chỉ phản ánh sự phản bội, tàn ác của bọn Khmer Đỏ, nỗi quằn quại của dân tộc Campuchia trước nguy cơ diệt chủng và hình ảnh cao đẹp, vô tư của người lính tình nguyện Việt Nam cứu giúp nước bạn, mà văn học còn chuyển tải số phận bi thương của từng con người, từng gia đình và cả dân tộc ta phải gánh chịu trước bi kịch bất ngờ ập đến. Vượt qua trăm ngàn gian khó thời bị cấm vận, cả nước để dồn sức người sức của cho tiền tuyến. Hàng ngàn sinh mạng ngã xuống. Nhiều liệt sĩ đến bây giờ vẫn còn nằm đâu đó trong rừng sâu nước bạn.

Rõ ràng, cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế giúp Campuchia có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XX. Tuy nhiên, đến nay chúng ta vẫn chưa đánh giá đúng mức kết quả của cuộc chiến, đồng thời cũng chưa có cuộc tổng kết, hội thảo về thành tựu văn học viết về nó.

Hướng tới kỷ niệm 40 năm ngày quân tình nguyện Việt Nam giải phóng Campuchia, Ban Chấp hành Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh nhiệm kỳ mới đã lên kế hoạch tổ chức một cuộc hội thảo văn học về cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam. Ba năm nữa là khoảng thời gian đủ cho các nhà văn, nhà nghiên cứu và những người liên quan suy ngẫm, nhìn nhận, đánh giá đúng những thành tựu văn học. Đây là ý tưởng và hành động thiết thực, bởi chúng ta không có quyền lãng quên bất cứ điều gì của quá khứ khách quan và trung thực có ý nghĩa đối với đất nước và dân tộc từng gánh chịu quá nhiều đau thương.

Phan Hoàng

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.