Mấy mẩu đối thoại với văn chương

Trong quyển sách "Tuyển tập văn hóa Nam Định thế kỷ XX" (nghiên cứu - lý luận - phê bình) NXB Văn hóa-Thông tin và Công ty Văn hóa Trí tuệ Việt, H.2005, nhà thơ Vũ Quần Phương khẳng định ở trang 437 (bài viết về nhà thơ Nguyễn Bính) rằng: “Nguyễn Bính không làm thơ tả cảnh thực hay phong tục nông thôn. Cảnh quê trong thơ anh không có những chi tiết sắc sảo như trong thơ Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, anh không dựng cảnh bằng quan sát”.

Có phải nhà thơ Nguyễn Bính không làm thơ tả cảnh thực...

Có đúng như nhận định của nhà thơ Vũ Quần Phương ở những dòng trên đây? Theo tôi là không. Xin được trao đổi mấy mẩu nhỏ thú vị cùng độc giả và cũng rộng đường bạn yêu thơ trong ngày đầu xuân Ất Tỵ này.

Tr 23 VN tết - Mấy mẩu đối thoại với văn chương -0
Nhà thơ Nguyễn Bính - Nhà thơ Xuân Diệu

1. Thật vậy. Hãy đọc những câu này của Nguyễn Bính chúng sẽ hoài nghi rằng, Nguyễn Bính chả phải đã tả cảnh thực chăng?

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay/ Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy/ Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ/ Mẹ bảo: "Thôn Đoài hát tối nay" (Mưa xuân)

Lại đọc những câu này. Chúng không phải đã "tả cảnh thực" chăng: Nhà tôi có một vườn dâu/ Có giàn đỗ ván, có ao cấy cần/ Hoa đỗ ván nở mùa xuân/ Lứa dâu tháng tháng, lứa cần năm năm (Nhà tôi).

Lại nữa, hay đọc những câu này, chúng không phải đã "tả cảnh thực" chăng:

Ở đây có nước sông Hương/ Có cây núi Ngự có đường Nam Giao/ Bồng bồng sáu nhịp cầu cao/ Thờ ơ bóng mát nơi nào cũng xanh/ Thâm u một dải hoàng thành/ Đình không con én không đành bay đi (Vài nét Huế).

Còn những câu này, chúng không phải đã "tả cảnh thực" chăng: "Chị tôi nước mắt đầm đìa/ Chào hai họ để đi về nhà ai.../ Mẹ trông theo, mẹ thở dài/ Dây pháo đỏ bỗng vang trời nổ ran/ Tôi ra đứng tận đầu làng/ Ngùi trông theo chị khuất ngàn dâu thưa (Lỡ bước sang ngang).

2. Hãy đọc những câu sau đây, chúng không phải đã tả "phong tục nông thôn" chăng: "Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều/ Mẹ tôi lo liệu đủ trăm chiều/ Sân gạch tường hoa người quét lại/ Vẽ cung trừ quỷ, giồng cây nêu..../ Sáng ngày mùng một sớm tinh sương/ Mẹ tôi cấm chúng tôi ra đường/ Mở hàng mỗi đứa năm xu rưỡi/ Rửa mặt hoa mùi nước đượm hương// Thầy tôi lấy một tờ hoa tiên/ Bút lông dầm mực, viết lên trên… (Tết của mẹ tôi).

3. Hãy đọc những câu sau đây chúng không phải "dựng cảnh bằng quan sát" thì bằng gì: Thong thả, dân gian nghỉ việc đồng/ Lúa thì con gái mượt như nhung/ Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng/ Ngào ngạt hương bay, bướm vẽ vòng (Xuân về).

Lại đọc:

"Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh/ Tôi đợi người yêu đến tự tình/ Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy/ Bắt đầu là cái thắt lưng xanh" (Mùa xuân xanh). Chúng không "dựng cảnh bằng quan sát" thì bằng gì?

4. Nhận xét khá giản đơn, sơ sài nữa của nhà thơ Vũ Quần Phương là thơ Nguyễn Bính "không có những chi tiết sắc sảo như thơ Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ".

Hãy đọc hai câu này trong bài "Tình tôi": "Hồn cô cát bụi kinh thành/ Đa đoan vó ngựa, chung tình bánh xe".

Nhà soạn kịch và nhà phê bình văn học Trúc Đường đọc đến câu này phải thốt lên "hay quá đi mất" và viết: "Hồn người ta như cát như bụi trên mặt đường, gặp vó ngựa nào cũng in, gặp bánh xe nào cũng bám, thì thật đau xót" (Xem quyển "Chuyện thơ", NXB Quân đội nhân dân, 2017).

Anh Thơ và Đoàn Văn Cừ có chi tiết nào sắc sảo hơn?

Lại đọc một câu ở bài "Bến sông": "Nắng sang bãi cát bên kia có chiều".

Trúc Đường đã thấy được "cái nhìn tinh vi của tác giả" ở chỗ câu thơ làm người đọc thấy "nắng bỗng nhiên hắt đi ở một bên sông để lóe lên ở phía bờ bên kia: chỉ ở bờ bên kia mới có chiều" (sách đã dẫn).

Anh Thơ và Đoàn Văn Cừ đã có chi tiết nào sắc sảo hơn?

Ấy là mới dẫn chứng sơ sơ một ít để nói về mấy nhận định đã nói trên của nhà thơ Vũ Quần Phương.

Còn có thể kể thêm nhiều nhiều nữa những câu, những bài khác đầy rẫy trong thơ Nguyễn Bính, khác hẳn những nhận định ấy.

Phải chăng thơ Xuân Diệu sau năm 1945 không có bài nào đáng nhớ?

Nhà thơ Trần Nhuận Minh trong quyển "Đối thoại văn chương", NXB Hội Nhà văn và Tân Việt books, H/2023, có viết một câu rất ngắn gọn ở trang 123: "Nhớ Xuân Diệu, tôi chỉ nhớ những bài thơ viết trước năm 1945 của ông".

Nói như vậy, cũng có nghĩa là với nhà thơ Trần Nhuận Minh, thơ Xuân Diệu viết sau năm 1945 không có bài nào đáng để anh nhớ cả!

Điều này rất khác với tôi (và có thể là những người khác). Tôi thì vẫn nhớ nhiều bài thơ Xuân Diệu viết trước 1945, nhưng vẫn nhớ một số bài thơ Xuân Diệu viết sau năm 1945.

Dẫn nhiều thì dài dòng, chỉ xin "quá tam ba bận" mà ghi lại đây mấy bài thơ Xuân Diệu viết sau năm 1945, xem bạn văn Trần Nhuận Minh và các nhà nghiên cứu, và các nhà thơ, và bạn đọc gần xa có đồng cảm với tôi (và cả nhà thơ Xuân Diệu) ít nhiều chăng:

Dạ hương

Tôi cầm mùi dạ lan hương
Trong tay, đi đến người thương cách trùng
Dạ lan thơm nức lạ lùng
Tưởng như đi mãi chưa cùng mùi hương

                     (11/1958).

Hỏi

Một năm thêm mấy tháng rồi
Thu đi, đông lại, bồi hồi sắp xuân
Gặp em, em gặp mấy lần,
Tưởng quen mà lạ, tưởng gần mà xa.

Ai làm cách trở đôi ta,
Vì anh vụng ngượng, hay là vì em?
Trăng còn đợi gió chưa lên,
Hay là trăng đã tròn trên mái rồi?

Hằng ngày em nói bao lời
Với cha, với mẹ, với người chung quanh,
Với đường phố, với cây xanh;
Sao em chưa nói với anh một lời?

Tương tư ăn phải miếng mồi,
Đứng đi trên lửa, nằm ngồi trong sương.
Phải duyên, phải lứa thì thương,
Để chi đêm thẳm ngày trường, hỡi em!

           (7/1957)

Nhớ em

Nhớ em như một vết thương
Trong lòng như vỡ mảnh gương trong lòng
Như cầm cốc thuỷ tinh trong
Trong tay bóp nát, máu dòng dòng sa

Em là vui sướng của ta
Mến yêu vô tận, em là nỗi đau
Sống trên quả đất tìm nhau
Nhớ em như nước xoáy sâu đập bờ

Hỡi người yêu mến muôn xưa
Yêu muôn sau, với bấy giờ đang yêu
Những ai lướt sóng cưỡi triều
Biển ân tình - có trải nhiều xót xa?

                                 (1959)

Biển

Anh không xứng là biển xanh
Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng
Bờ cát dài phẳng lặng
Soi ánh nắng pha lê...

Bờ đẹp đẽ cát vàng
Thoai thoải hàng thông đứng
Như lặng lẽ mơ màng
Suốt ngàn năm bên sóng...

Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ, thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi.

Đã hôn rồi, hôn lại
Cho đến mãi muôn đời
Đến tan cả đất trời
Anh mới thôi dào dạt...

Cũng có khi ào ạt
Như nghiến nát bờ em
Là lúc triều yêu mến
Ngập bến của ngày đêm

Anh không xứng là biển xanh
Nhưng cũng xin làm bể biếc
Để hát mãi bên gành
Một tình chung không hết

Để những khi bọt tung trắng xóa
Và gió về bay tỏa nơi nơi
Như hôn mãi ngàn năm không thỏa
Bởi yêu bờ lắm lắm, em ơi!

                                    (4/4/1962)

Nhà thơ Trần Nhuận Minh còn cho biết, cũng ở sách trên, trang 124-125, rằng: "Khi tuyển chọn "Tinh tuyển thơ Việt Nam thế kỷ XX", ban tuyển chọn của Hội Nhà văn Việt Nam gồm 4 nhà thơ và nhà nghiên cứu phê bình, trong đó có tôi, do nhà thơ Bằng Việt làm trưởng ban, thảo luận nhiều lần, cân nhắc kỹ lưỡng, cuối cùng chọn 3 bài của ông (Xuân Diệu) đều là thơ viết trước năm 1945".

Theo tôi, mấy bài thơ Xuân Diệu viết sau năm 1945 vừa dẫn trên đây, đều có thể xếp vào hàng đầu thơ hay trong đời thơ Xuân Diệu, thơ hay của văn chương Việt Nam hiện đại - trong đó đặc sắc nhất là bài "Biển".

Vì vậy, nếu đúng như nhà thơ Trần Nhuận Minh đã nói ở trên, thì cho tôi xin phép được... phản đối ban tuyển chọn "Tinh tuyển thơ Việt Nam thế kỷ XX", về trường hợp này của thơ Xuân Diệu, mặc dù ban tuyển chọn đã "thảo luận nhiều lần, cân nhắc kỹ lưỡng". Tôi cho rằng ban tuyển chọn này, trong đó có những nhà thơ tài năng (và nhiều nhà thơ của chúng ta sáng tác trong thế kỷ XX nữa) muốn có những bài thơ hay như mấy bài thơ Xuân Diệu trên đây, nhiều khi còn phải... toát mồ hôi hột, mà chưa chắc đã có được!

Hồng Diệu

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.