Mấy bài thơ ít người biết của Thanh Tịnh và Nguyễn Bính

Sinh thời, nhà thơ Trần Lê Văn có lần nói với tôi về một bài thơ chữ Hán của nhà thơ Nguyễn Bính chưa in ở đâu, mà ông vừa tìm lại được trong sổ tay của mình...

1. Lâu nay, nói về thơ của nhà thơ Thanh Tịnh trước Cách mạng Tháng Tám, người ta thường nhắc đến loại thơ “lãng mạn” kiểu:

Em ơi nhẹ cuốn bức rèm tơ
Tìm thử chân mây khói tỏa mờ
Có bóng tình quân muôn dặm ruổi
Ngựa hồng tuôn bụi cõi xa mơ

(trong bài “Mòn mỏi”)

Hay:

Còn nhớ hôm xưa độ tháng rày
Cánh đồng xào xạc gió đùa cây
Vô tình thiếu nữ cùng ta ngắm
Một đoạn tơ trời lững thững bay

(trong bài “Tơ trời với tơ lòng”)

Hoặc:

Một hai sao nỡ dần dần
Ngày đi lặng lẽ đêm gần gần đây
Bàng hoàng gió gạt hương cây
Đêm mông lung rộng chăng mây kín trời

(trong bài “Chiều về”)

Người ta quên mất loại thơ “hiện thực” của ông vốn thấy không nhiều ở những nhà thơ cùng thời (ngoài những nhà thơ là chiến sĩ cách mạng).

Từ trái qua, nhà thơ Nguyễn Bính và nhà thơ Thanh Tịnh
Từ trái qua, nhà thơ Nguyễn Bính và nhà thơ Thanh Tịnh

Chưa biết tập thơ “Hận chiến trường” ra sao, vì sau khi in (1936) đến nay chưa tìm lại được. Mà theo các tác giả “Thi nhân Việt Nam (1932-1941)” là Hoài Thanh và Hoài Chân, hồi tập thơ này in, thì “người ta bỗng thấy trên mặt nước dựng lên một lâu đài xương máu, nhưng không ngờ ta tới nơi, nó lại biến đâu mất. Thì ra là một ảo cảnh”.

Tiêu biểu nhất trong loại thơ “hiện thực” bị lãng quên nói trên có lẽ là bài “Vàng, máu” in ở Hà Nội báo số 27, ngày 8-7-1936, ngày nay không mấy người biết. Với ngôn ngữ, giọng điệu cách đây gần một thế kỷ, bài thơ đã nhìn thẳng vào cuộc đời lam lũ cùng cực của những người lao động, mà ở đây là những người phụ nữ nghèo và thương xót họ, thông cảm với họ.

Bài thơ rất khó tìm, nên ghi lại đây để nhiều người cùng biết:

Vàng, máu

Nào những buổi bình minh nắng gội
Tắm góc rừng run rẩy dưới sương mai
Thì giữa ngàn cây thác đổ rền tai
Vài cô gái trần truồng bì bõm lội.

Mấy cô gái đãi vàng trên dòng thác
Giữa voi gầm, gió hú, hổ rình xa
Và giữa ngàn linh, rừng thẳm bao la
Đàn trăn lục lượm mồi trên nước bạc.

Nước lay đá, hâm hùng như say phản
Chần các cô bên mỏm đá nhám xanh,
Đoạn cuốn lôi theo gậm núi loanh quanh
Vung máu nhuộm hang sâu màu đỏ loãng!

Trong lúc ấy các ngai vàng chói lọi
Bốn phương trời rạng rỡ ánh kim thoa
Buổi tiệc đêm trong điện các hương pha
Nghìn thanh nữ đầy thân vàng loáng ngợi...

Hay thiếu phụ cõng con trên lưng nặng
Đãi cát vàng bên hóc núi cheo leo
Thấy vàng trôi, nàng hớn hở với theo
Vô ý ngã, con rơi, dòng lôi thẳng.

Nàng hoảng hốt đuổi vàng theo con dại
Thì bên chân vàng đứng, xoáy không trôi
Cúi lượm lên, nàng bỗng ngã: con ôi!
Nước lùa mẹ theo con, dòng thác chảy.
Trong lúc ấy các ngai vàng chói lọi
Bốn phương trời rạng rỡ ánh kim thoa
Buổi tiệc đêm trong điện các hương pha
Nghìn thanh nữ đầy thân vàng loáng ngợi...

2. Thơ của nhà thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng Tháng Tám hầu hết đều buồn - nhất là thơ viết về mùa xuân, về ngày Tết là thời gian dành cho sum họp, đoàn tụ... Chỉ một lần duy nhất, có một bài thơ, nhà thơ cho thấy mình vừa vui, vừa hóm hỉnh, dí dỏm - ngay giữa những ngày xuân. Ấy là bài này:

Bướm đi chợ

Có hai chị bướm đi chơi chợ
Chị áo hồ lơ, chị áo điều
Chị áo hồ lơ thầm hỏi bạn:
“Mùa xuân mày biết giá bao nhiêu?”
Chị áo điều nghe, cười ngặt nghẽo:
“Mùa xuân đắt lắm, cô mình ơi!
Trăm quan hồ dễ mà mua được!
Cố áo mà mua, tớ chịu thôi!”

Bài này tôi lấy ở bản chụp lại bản viết tay của chính nhà thơ Nguyễn Bính, có chỗ khác bản đã in trong tập thơ “Một nghìn cửa sổ” (1941).

Bài thơ có những chữ lâu nay không dùng hoặc ít được dùng, các bạn trẻ bây giờ khó biết, tôi ghi lại đây:

“Áo hồ lơ”: áo màu trắng đã giặt sạch, ngâm vào chậu nước có mảnh giấy thấm màu xanh loãng, cho đẹp.

“Áo điều”: áo màu đỏ tươi (ca dao: nhiễu điều phủ lấy giá gương...).

“Quan”: một đơn vị tiền tệ ngày trước (Thơ Nguyễn Bính: “Một quan là sáu trăm đồng/ Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi”).

“Hồ dễ”: đâu dễ, chẳng dễ.

“Cố”: gán một vật để lấy tiền, như cầm trong “cầm đồ” hay dùng bây giờ.

3. Sinh thời, nhà thơ Trần Lê Văn có lần nói với tôi về một bài thơ chữ Hán của nhà thơ Nguyễn Bính chưa in ở đâu, mà ông vừa tìm lại được trong sổ tay của mình. Nhà thơ Trần Lê Văn cho biết, vào khoảng những năm 1956-1957, Nguyễn Bính đã đọc và ông ghi lại bài thơ này:

Phiên âm

Vô đề

Thiên nhai hải giác nhất phiêu bình
Hữu thử tài năng lụy thử sinh
Thư tác lữ trung vô nhạn túc
Nguyệt trầm song ngoại sổ kê thanh
Hương lân cửu biệt quy nan đắc
Đô thị trường lưu mộng bất thành
Cô quán tài thi cô bút tại
Khiêu đăng đảo chẩm đáo thời minh.

Dịch xuôi

Chân trời góc bể lênh đênh một cánh bèo
Có tài mà vất vả suốt một đời!
Thư viết trong quán trọ mà quán trọ không có chim nhạn (để nhạn đem thư đi)
Trăng chìm ngoài cửa sổ, nghe có mấy tiếng gà gáy
Xa hàng xóm lâu ngày, mà khó được về.
Sống lâu ở thành thị mà mộng chẳng thành
Tài thơ trong quán vắng chỉ có một cây bút (chỉ có một mình ta)
Khêu đèn, trở gối cho đến sáng.

Xin lưu ý là ở đây tôi chỉ dịch xuôi qua bản phiên âm, nhà thơ Trần Lê Văn không có bản chữ Hán, mà Hán ngữ nhiều chữ “đồng âm dị nghĩa”, nên có chỗ chưa hẳn đã hoàn toàn chuẩn xác.

Tôi thấy nhà thơ Trần Lê Văn đã dịch khá hay bài thơ này:

Chân trời góc bể chiếc bèo trôi
Mang nghiệp tài năng lụy một đời
Nhà trọ thư đề, chân nhạn vắng
Song ngoài gà gáy bóng trăng lui
Xa lâu hàng xóm, về không tiện
Ở mãi đô thành, mộng cũng vơi
Quán lẻ làm thơ, ngòi bút lẻ
Khêu đèn trằn trọc sáng chưa thôi

4. Nhà thơ Nguyễn Bính còn một bài thơ nữa cũng rất ít người biết. Tôi có được là do một sự tình cờ, đọc trong sổ tay của nhà soạn kịch Trúc Đường - anh ruột nhà thơ Nguyễn Bính - sau khi ông qua đời. Bài thơ này, có thể mới chỉ là phác thảo, nhà thơ chưa ưng ý, nên mới chỉ có phiên âm, không có dịch xuôi và dịch thơ, chưa rõ viết lúc nào, đề tặng ai (và cũng không có bản chữ Hán). Tôi xin làm hai phần còn thiếu này để giới thiệu một kỷ niệm của Nguyễn Bính:

Dịch xuôi:

Tôi là người thăng trầm, lưu lạc
Hôm nay rất vui được gặp anh trong xóm núi
Anh về, tôi chẳng biết tặng gì
Chỉ có mấy câu thơ gửi người mà tôi kính trọng.

Dịch thơ:

Sướng vui, đau khổ đã từng
Một ngày bản vắng vui mừng gặp anh
Chia tay, chỉ có lòng thành
Thơ dăm ba chữ loanh quanh làm quà!

Hồng Diệu

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.