Mai Thị Liên Giang: Kết nối khoảng trống giữa người đọc và nhà văn

Mai Thị Liên Giang là một người đọc chuyên nghiệp và lý tưởng, có phương pháp và mục đích, đồng hành và chiếu rọi văn bản của nhà văn để giải mã, khai mở, đối thoại, liên tưởng trong niềm cảm hứng tái sáng tạo.

Từ đầu thế kỷ XXI, lý luận phê bình văn học nước ta có một sự chuyển biến mạnh mẽ. Ngoài việc du nhập các học thuyết, trường phái nghiên cứu tinh hoa của thế giới thì một đội ngũ phê bình trẻ đã xuất hiện, được đào tạo bài bản trong một môi trường giáo dục, nghiên cứu thuận lợi. Văn đàn đã chứng kiến sự xuất hiện liên tục các tác phẩm phê bình văn học của các cây bút trẻ có những cách nhìn đa chiều và riêng khác biệt, mà đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các tác phẩm văn học đương đại.

Tiến sĩ Mai Thị Liên Giang của Trường Đại học Quảng Bình với tác phẩm vừa xuất bản "An trú miền đọc" (NXB Hội Nhà văn 2018) là một gương mặt trẻ như vậy.

Tự chọn phương pháp đọc riêng biệt và đúng hướng

Điều thú vị là gần đây những người viết phê bình trẻ phái đẹp xuất hiện ngày càng nhiều. Hợp cùng với Cao Thị Hồng, Hoàng Thuỵ Anh, Lê Thị Thanh Tâm, Hỏa Diệu Thuý, Trần Huyền Sâm, Thái Phan Vàng Anh, Trần Lê Hoa Tranh, Nguyễn Thị Thu Trang, Hà Thanh Vân, Lê Hồ Quang, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Hoàng Hường, La Mai Thi Gia, Nguyễn Thị Phương Thuý, Trần Thị Ánh Nguyệt,… Mai Thị Liên Giang là một trong những nữ phê bình trẻ đang đồng hành và tiếp thêm cảm hứng, động lực mạnh mẽ cho giới sáng tác, kết nối nhà văn với bạn đọc trên cơ sở văn bản.

Sau công trình đầu tay "Chủ thể tiếp nhận và lịch sử tiếp nhận Thơ mới" xuất bản năm 2015, Mai Thị Liên Giang bước vào nghiên cứu những tác phẩm văn học hiện đại ở trong và ngoài nước để chủ yếu dựng nên tập tiểu luận - phê bình "An trú miền đọc" (2018).

Sách dày 332 trang, gồm 26 bài, trong đó có 9 bài phê bình về thơ, 5 bài phê bình văn xuôi; 12 bài phê bình lý luận, ý kiến văn học. Ở lời tựa sách, PGS.TS Lý Hoài Thu đã nhận định xác đáng: "Trong thế giới đầy biến động, việc tìm đến một miền an trú thảnh thơi có phương pháp riêng sẽ góp phần tích cực trong việc kéo dài niềm an lạc cho cuộc sống con người.

Đối với tác giả, đọc như là một kiểu trải nghiệm sáng tạo nghệ thuật, một cách nối kết khoảng trống giữa người làm công tác phê bình lý luận và sáng tác văn học. Từ những đánh giá thành tựu và hạn chế của một số công trình lý luận một cách khoa học, nghiêm túc, khách quan; một số cảm nhận, ý kiến phê bình khá sắc sảo, thuyết phục từ các đặc điểm nhìn khác nhau, TS Mai Thị Liên Giang đã tiếp tục xác định được một khoảng lặng riêng biệt, thú vị ở sự đọc".

Mai Thị Liên Giang là một người đọc chuyên nghiệp và lý tưởng, có phương pháp và mục đích, đồng hành và chiếu rọi văn bản của nhà văn để giải mã, khai mở, đối thoại, liên tưởng trong niềm cảm hứng tái sáng tạo.

Từ trải nghiệm của mình chị viết: "Trong quá trình tiếp nhận văn học, hay trong quá trình đọc sách, người đọc phải đối diện trực tiếp với những văn bản. Đây chính là một trong những đối tượng thường trực trong quá trình đối thoại với văn học. Thực tế, ở Việt Nam có những giai đoạn, người đọc đối diện với những quan điểm, tư tưởng của sách chứ không phải là văn bản sách". (Người đọc và những thách thức của văn học thị trường Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá", tr.263).

Mai Thị Liên Giang còn trình bày rõ hơn về nghệ thuật đọc sách hiện nay trước thực trạng phát triển của văn học thị trường. Mỗi người đọc phải tự biết định hướng và tìm ra phương pháp phù hợp, có thể chọn cách đọc theo các quan điểm ấn tượng học, thi pháp học, ký hiệu học, xã hội học, văn hoá học, hiện tượng học, phân tâm học, mỹ học tiếp nhận, phê bình mới, hướng sinh thái, nữ quyền luận, hậu hiện đại,…

Theo tác giả: "Khó có thể giải mã cái mới bằng phương pháp đọc lỗi thời. Một đòi hỏi cao với người đọc là phải có sáng tạo, tiếp thu phù hợp với các xu hướng phát triển của văn học. Cần tránh tình trạng thấy sách nào cũng đọc thì cũng không đủ thời gian. Đặc biệt trước trào lưu truyện ngôn tình, người đọc cần có thái độ nghiêm túc và kỹ năng trong việc đọc. Cần đọc trên tinh thần cùng sáng tạo. Trước một tác phẩm mới cần có tầm nhìn bao quát, thái độ khách quan, khoa học để đào thải những sách hời hợt, không có giá trị khoa học" (tr.278-279).

Chị đã bám sát văn bản tác phẩm để khám phá, phát hiện, nghiên cứu, luận giải, khai phóng cái hay cái đẹp và nhiều điều thú vị mà đôi khi chính nhà văn sáng tác cũng không nghĩ tới. Chị đặt mình ở tâm thế người đọc đồng hành với hoạt động sáng tạo của tác giả, liên tài với tác giả, đồng thời kết nối khoảng trống giữa người đọc với nhà văn. Với tư duy mạch lạc, văn phong khúc chiết và đầy cảm xúc, cách nhìn tinh tế và sâu sắc, những bài tiểu luận phê bình của Mai Thị Liên Giang có sức quyến rũ, lôi cuốn.

Giải mã mật từ và hấp lực của từng trang viết

Nhà phê bình Hoàng Thuỵ Anh cảm nhận về tác phẩm của đồng nghiệp: "Cách chị khảo sát và phân tích cấu trúc ngôn từ, hệ thống và ý nghĩa của các biểu tượng, âm thanh, không gian, thời gian, tính liên văn bản, trò chơi hội thoại, lạ hoá, ẩn dụ kép,… trong thơ Trương Đăng Dung, Hồ Thế Hà, Hoàng Vũ Thuật, Phan Hoàng, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Hoan,… cho thấy một khả năng đọc kỹ lưỡng và diễn giải hết sức thấu đáo. Bản chất của thơ là sự quyến rũ, mê hoặc, hài hoà giữa cảm xúc và ngôn từ. Tìm ra điểm tương hợp của những mật từ, Mai Thị Liên Giang chỉ ra hấp lực riêng của mỗi nhà thơ".

Tác phẩm "An trú miền đọc" của Mai Thị Liên Giang.
Tác phẩm "An trú miền đọc" của Mai Thị Liên Giang.

Hấp lực của thơ Hoàng Vũ Thuật ấy là hàm lượng văn hoá đời người. Hấp lực của thơ Trương Đăng Dung là "thất bại của cái chết". Hấp lực của thơ Phan Hoàng là hành trình ngược lối trở về cội nguồn. Hấp lực của thơ Nguyễn Quang Thiều là kết cấu vẫy gọi và sự lạ hoá hình tượng đến phi lý.

Hấp lực của thơ Hồ Thế Hà là tính biểu tượng và ám gợi. Hấp lực của thơ Trần Quang Đạo là chiều sâu ký ức thiêng liêng. Và với truyện thơ "Nàng công chúa chết và bảy tráng sĩ" của đại thi hào Nga Pushkin, Mai Thị Liên Giang đã tìm thấy "vẻ đẹp đạo đức con người qua hệ thống nhân vật cổ tích"…

Mai Thị Liên Giang còn có những phát hiện thú vị từ những tác phẩm văn xuôi qua các bài viết: "Tinh thần nhân vật mảnh vỡ trong tiểu thuyết "Chân trời mùa hạ" của Hữu Phương", "Đối thoại tập thể trong sáng tác của Tô Hoài trước 1945", "K. và nỗi cô đơn thời gian trong "Lâu đài"", "Tự do và trách nhiệm trong tiểu thuyết "Thằng điên và quỷ sứ"", "Thánh ca và trạng thái yên ổn giả tạo trong tiểu thuyết "Đứa trẻ mồ côi" của Morizs Zsugmond". Tinh thần của mỗi tiểu luận được tác giả cô đúc khá ấn tượng trong tên bài.

Và cái tinh thần ấy như sợi chỉ đỏ xuyên suốt mỗi bài viết tạo nên sự chặt chẽ, quyến rũ. Chẳng hạn, đối với nhà văn Franz Kafka của Tiệp Khắc gốc Do Thái và viết bằng tiếng Đức vốn rất quen thuộc với giới nghiên cứu, bạn đọc Việt Nam, qua tác phẩm tiêu biểu của ông là "Lâu đài" với nhân vật chính K., Mai Thị Liên Giang đã cảm khái: "Tiếp xúc với nhân vật K., người đọc có cảm giác bấp bênh giữa thế giới hư và thực. Cái thế giới xuất hiện trong tác phẩm vừa giống vừa không giống với hiện thực bên ngoài, nó vừa có thể xảy ra vừa không thể hình dung được. Đó chính là biểu hiện của nỗi cô đơn thời gian".

Một phần quan trọng của cuốn "An trú miền đọc" là các bài nghiên cứu về lý thuyết văn học, tác phẩm lý luận phê bình và sự kiện văn học, dựa trên cơ sở văn bản và người tiếp nhận từ thị trường sách. Đó là quan điểm về tiếp nhận văn học của Hans Robert Jauss với chủ thể tiếp nhận ở Việt Nam, quan niệm về sự đọc của Claudio Magris, cách vận dụng quan điểm của Jacque Derrida trong quá trình đọc văn bản, thi pháp học Roman Jakobson thể hiện qua phương pháp phê bình văn học của Hoàng Thuỵ Anh.

Đó là nữ quyền luận trong phê bình của Trần Huyền Sâm, bút pháp phê bình của Lý Hoài Thu trong tác phẩm "Văn nhân quân đội", tiên phong phê bình sinh thái của Nguyễn Thị Tịnh Thy. Đó là điểm nhìn mỹ học từ những nẻo đường văn chương của Phạm Ngọc Hiền, cách tiếp cận mới nền văn học Mỹ Latin qua chuyên luận của Phan Tuấn Anh về "nỗi cô đơn huyền thoại" của Gabriel Garcia Marquez,…

 Có thể nói, "An trú miền đọc" là công trình nghiên cứu công phu, thấm đẫm tinh thần khoa học và nhân văn, mang bản sắc riêng khi Mai Thị Liên Giang lấy văn bản tác phẩm làm trung tâm để khảo sát, lý giải, khơi mở trí tưởng tượng sáng tạo. Đúng như đánh giá của PGS.TS Lý Hoài Thu: "Đứng trước nhiều trường phái nghiên cứu, nhiều văn bản tác phẩm văn học xuất hiện khá xô bồ ở Việt Nam hiện nay, bằng độ nhạy cảm, khoa học trong tiếp nhận, tác giả đã biết lựa chọn, đưa ra những cách đọc riêng mình để thâm nhập vào sinh thể tác phẩm".

Phan Phú Yên

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.