"MA" - một hình tượng nghệ thuật!

Văn hóa nước nào cũng có “ma”, văn chương nước nào cũng có nhân vật “ma”. Theo tín ngưỡng dân gian, “ma” là hồn người chết, động vật, thực vật chết nhưng vẫn tồn tại cùng với người đang sống. Cần phân biệt rõ “ma” là hồn người đã chết chứ không phải hồn người đang sống. Vì ngay dân gian ta cũng quan niệm con người có ba “hồn”, nhưng “vía” thì nam có bảy, còn nữ có chín.

Người Việt ta dường như không có thiện cảm với “ma” mặc dù “ma” chẳng có gì là xấu, là đáng ghét, đáng khinh. Thế nên hầu như cái gì tiêu cực cũng dồn hết cho “ma”.
Chỉ những kẻ khôn quá thì “kẻ ma mãnh”, “thằng ranh ma”, “ranh như ma”... Chỉ bọn học trò nghịch ngợm thì “Nhất quỷ nhì ma...”. Chỉ tình trạng người ngợm bẩn thỉu thì “Bẩn như ma lem”. Chỉ những kẻ cái gì cũng biết theo nghĩa tiêu cực thì “như ma xó”. Chỉ tình trạng mất cân bằng tinh thần thì “như ma nhập”, “bị ma ám”. 

Chỉ những người “yếu bóng vía” thì “Sơn ăn tùy mặt, ma bắt tùy người”. Tả người xấu thì phải “xấu như ma”, thậm chí “ma chê quỷ hờn”. Chỉ hoàn cảnh đáng thương “Ma không thương người ốm, trộm không thương người nghèo”. Chỉ người sa vào hoàn cảnh khó giải quyết thì “Ma đưa lối quỷ đưa đường”. 

Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” cũng mượn ma để “rủa”: “Mấy người bạc ác tinh ma/ Mình làm mình chịu kêu mà ai thương”. Ở thời hiện đại có nhà văn viết tiểu thuyết nổi tiếng có tên “Mảnh đất lắm người nhiều ma”, ngay cái tên hấp dẫn này cũng cho thấy thế giới nhân vật phân ra hai cực tốt xấu... Đấy là chưa dẫn ra những thành ngữ chỉ phong tục phức tạp, phiền nhiễu chung quanh về việc “ma chay”...

Lạc Long Quân diệt Ngư tinh. Tranh: Tạ Huy Long.
Lạc Long Quân diệt Ngư tinh. Tranh: Tạ Huy Long.

Hình như chỉ có một “ma” tích cực là “ma mị” trong văn cảnh “lối viết ma mị” ca ngợi cách viết mê hoặc, lôi cuốn...?!

Văn hóa nước nào cũng có “ma”, văn chương nước nào cũng có nhân vật “ma”. Theo tín ngưỡng dân gian, “ma” là hồn người chết, động vật, thực vật chết nhưng vẫn tồn tại cùng với người đang sống. Cần phân biệt rõ “ma” là hồn người đã chết chứ không phải hồn người đang sống. Vì ngay dân gian ta cũng quan niệm con người có ba “hồn”, nhưng “vía” thì nam có bảy, còn nữ có chín. Ngày xưa ở nhà quê thỉnh thoảng nghe tiếng gọi “hồn” thật sự “ma mị” khi có đứa trẻ bị ngất (do say nắng, do đuối nước, do ngã bất tỉnh...): “Hồn ơi hồn! Hồn thằng A/ con B đi chơi đâu/bỏ đi đâu về mà nhập...”. Chẳng biết linh nghiệm thế nào mà gọi một lúc thì thằng/con bé tỉnh dần...!

Triết học văn hóa của cả thế giới đang đi lý giải có “ma” thật không? Có thật tức là có “thế giới bên kia”. Người chết nhưng chưa hết. Nhưng quả thật nếu mà chứng minh được có “thế giới ma” thì chả còn chuyện gì để nói. Chả còn các phiên tòa xét xử lôi thôi vì có chuyện gì oan khuất thì mời “vong” lên nói chuyện. Chả còn chuyện xấu xa vì nếu ai làm điều xấu thì “Thánh vật”, “ma ám”... Chả kẻ nào dám tham nhũng vì mời “Thánh” xét xử...! Thành ra các nhà triết học cứ để các chuyện này “lấp lửng”, thế nên chuyện “tâm linh” ngày càng “ma mị”, “huyền ảo”, mời gọi...

 Không bàn vào chuyện “ma” có thật hay không thật, chỉ xin bình luận “ma” là một hình tượng nghệ thuật!

Cụ Nguyễn Du tài nghiêng trời thế nhưng vẫn phải để trong “Truyện Kiều” nhân vật “ma” Đạm Tiên: “Thoắt đâu thấy một tiểu kiều/ Có chiều phong vận có chiều thanh tân/ Sương in mặt tuyết pha thân/ Sen vàng lãng đãng như gần như xa”. Có nhà phê bình nói Nguyễn Du tả ma cũng hay như tả người!

Tài năng như Sếchxpia mà viết “Hăm Lét” vẫn phải mượn đến “bóng ma”...

Có lẽ “Lĩnh Nam chích quái” là tập sách nói về “ma” sớm nhất trong văn học viết. Ngay tên sách cũng phần nào nói lên điều này (chích= nhặt nhạnh, thu lượm; quái = lạ, kỳ lạ, tức thu nhặt những truyện kỳ lạ ở Lĩnh Nam). Sách kể lại một số truyện dân gian nói về “tinh ma”. Như Lạc Long Quân giúp dân diệt trừ Ngư tinh, Mộc tinh, Hồ tinh. Trong truyện “Rùa Vàng” có chi tiết thần Kim Quy giúp An Dương Vương diệt con gà trắng thành tinh xây xong thành Cổ Loa. 

“Truyện Hà Ô Lôi” kể viên quan Đặng Sĩ Doanh đi sứ Trung Quốc để vợ tên là Vũ thị ở nhà. Thần Ma La hoá phép giống y chang Sĩ Doanh mà làm chuyện ân ái chồng vợ. Vũ thị đẻ ra một Ô Lôi đen bóng. Ở một tập sách cổ khác có tên “Thiên Nam vân lục liệt truyện” còn cụ thể, ly kỳ hơn: “Vũ thị sinh một bọc đen, bọc nở ra một bé trai, da đen như mực, vì thế đặt tên là Ô Lôi. Vì vị thần đó không có họ, bèn lấy chữ Hà làm họ. Ô Lôi tuy đen nhưng nó nhẵn láng như mỡ”...

Hồn ma Vua cha hiện về báo cho Hamlet.
Hồn ma Vua cha hiện về báo cho Hamlet.

Tập “Thánh Tông di thảo” mượn “ma” để răn dạy người đời khi đánh giá người khác không nên nhìn vào bề ngoài, mà phải cần có thời gian nhìn sâu vào tính cách bên trong. Dưới hình thức kỳ ảo, ma quái, “Truyện yêu nữ Châu Mai” xây dựng nhân vật Lương Nhân theo nguyên tắc tương phản, có hình thức “áo quần mộc mạc, hình dung tiều tụy” nhưng lại nói năng cứng cỏi với bản lĩnh khác thường, nói ra sự thật một cách thẳng thắn mà không ai dám nói. Ngư Nương (yêu nữ) suốt đời đi tìm người trong mộng cho đến khi gặp được Lương Nhân mới thoả lòng, cảm thán mà rằng “trước đây chỉ thấy rặt những phường ngoài mặt thì như ngọc vàng mà bên trong thì như bông nát”.

Tập “Truyền kỳ mạn lục” lấy chuyện “tà dâm” để giáo dục đạo lý. “Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây” kể chàng học trò Hà Nhân rủ rê hai ả thiếu nữ về nhà trọ rồi cợt nhả. Hai ả lúc đầu còn thẹn thò nhưng đêm ấy họ vẫn “tắt đèn đi nằm. Tựa ngọc kề vàng,… hoa đào nghiêng ngả”. Hà Nhân từ đó “tuy mượn tiếng du học, nhưng bút nghiên chí nản, son phấn tình nồng”. 

Cuối cùng sự thật được mở ra: hai ả đó là hồn hoa đã thành tinh. Lời bình càng làm rõ hơn cái ý mỉa mai: “thanh lòng không bằng ít dục, dục nếu yên lặng thì lòng rỗng mà điều thiện sẽ vào, khí bằng phẳng mà cái lý sẽ thắng, tà quỷ còn đến quấy nhiễu làm sao được. Chàng họ Hà lòng trẻ có nhiều vật dục, cho nên loài (ma) kia mới thừa cơ quyến rũ”. Bài học ở đây khuyên người ta phải giảm bớt “vật dục” đi, nếu không muốn bị “quyến rũ” bởi loài yêu ma!

“Chuyện yêu quái ở Xương Giang” kể chuyện viên quan họ Hoàng gặp rồi lấy một yêu ma làm vợ. Nhờ một “thần y” mới giải được nạn ma tà. Con ma còn kiện xuống âm phủ nhưng rồi sự việc cũng được đen trắng rõ ràng “Diêm Vương cả giận nói: - Không ngờ cái nhãi mà dám đảo điên, đã làm sự dâm tà lại còn toan kiện bậy. Vậy nên đem tống giam vào ngục”. 

Dưới quan niệm của Nguyễn Dữ thì “ma dâm” không chỉ hại người mà còn làm nhiều điều càn rỡ, trái luân thường đạo lý. Viên quan nọ cũng bị phạt: “Nhà ngươi theo đòi Nho học, đọc sách thánh hiền, trải xem những sự tích xưa nay, há không biết lời răn sắc đẹp, cớ sao lại đi vào con đường ấy! Liền cầm bút phê rằng: “Bỏ nết cương cường, theo đường tà dục, giảm thọ một kỷ”. Đây cũng là bài học chung, nếu kẻ Nho học nào phạm lỗi “tà dâm” không bị trừng phạt trên dương gian thì cũng bị Diêm vương phạt tội!

Ám ảnh nhất là “Chuyện cây gạo” kể về kẻ “đa dục” Trình Trung Ngộ, một lái buôn giàu có ân ái mặn nồng với Nhị Khanh, một hồn ma. Trung Ngộ thấy chỗ quàn quan tài người chết lại cho đấy là “lâu đài lộng lẫy, có hương hoa ngạt ngào”. Cuối cùng Trung Ngộ chết, mà chết thảm thương, chết rồi hồn còn bị “sáu, bảy trăm lính đầu trâu” (tức quân binh âm phủ) gông trói dẫn đi trị tội. Thế là kẻ nào “đa dục”, “đa dâm” không những dễ mù quáng mà còn sẽ dễ bị chết, chết đến hai, ba lần!!!

Trước 1945 có nhiều nhà văn chuyên viết về “ma quỷ”. Như Tachy – Đái Đức Tuấn với “Thần hổ” (1937); “Linh hồn hay xác thịt” (1938)... Nguyễn Tuân có “Chùa Đàn” là truyện ma đặc sắc...Viết nhiều và gây ấn tượng hơn cả là Lan Khai với những “truyện đường rừng” (1940) rất mê hoặc với những “yêu ma” kinh dị. Khai thác triệt để yếu tố “kỳ” (lạ), Lan Khai tạo ra những tình huống truyện mang tính dị biệt về một không gian “lạ hóa” là “đường rừng”. Những nơi đó không chỉ có ma người, mà còn có nhiều ma vật (ma thuồng luồng, ma vịt, ma hổ, ma rắn, ma gà...). 

Phần lớn các truyện này mang yếu tố “phê bình sinh thái” khá rõ với cái lõi ý nghĩa kêu gọi con người phải làm bạn với thiên nhiên (cây cối, nhất là với thú hoang). Ngược lại, nếu con người tàn phá tự nhiên (như săn bắn, giết hại) sẽ chịu hậu quả khủng khiếp. 

Truyện “Con bò dưới Thủy Tề” kể sự tích “gò Yên ngựa” là dấu vết còn sót lại của một khu dân cư đông đúc, sầm uất nhưng vì người giết quá nhiều muông thú mà bị Long Vương dâng nước nhấn chìm. Rất nhiều hình ảnh “ma quái” kiểu như “một con vật gì nửa người nửa rắn từ ngoài vào vừa đi vừa khóc sướt mướt” (Con thuồng luồng nhà họ Ma). Cái “đặc sản” của Lan Khai là xây dựng những nhân vật nửa người nửa ma với những “mắt thỏ”, “răng mèo”, “tiếng chim” (“Người lạ”)...

Đặc điểm của truyện “ma” thời hiện đại là xa với tính giáo huấn. Không còn là nhân vật chính, “ma” chỉ mang tính “tư tưởng” để nhà văn trình bày một luận đề xã hội?!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.