Lê Xuân Đố - Hoang tưởng đất trời sót lại câu thơ

Ban đầu tôi cứ ngỡ Lê Xuân Đố diễn, nhưng quen lâu ngày mới biết cảm xúc thực sự của ông cứ run bần bật những biến chuyển khủng khiếp như vậy. Tôi nể lắm. Tôi đã từng mưu tính một cuộc làm ăn rằng, nếu lấy nguyên mẫu Lê Xuân Đố để viết thành một kịch bản sân khấu hay một kịch bản điện ảnh thì sẽ rất ấn tượng. 

Nhà thơ Lê Xuân Đố có bốn đặc điểm: nói như cãi nhau, khóc như đám ma, cười như trúng số và đọc thơ như sấm sét. Độc đáo hơn nữa là bốn đặc điểm ấy cứ thay thế nhau trong từng chốc lát, có khi đồng hiện trộn lẫn vào nhau. Vì vậy, gặp Lê Xuân Đố lần thứ nhất rất dễ hoảng hốt, gặp Lê Xuân Đố lần thứ hai vẫn còn kinh ngạc, và gặp Lê Xuân Đố lần thứ ba chắc chắn phải khâm phục. Bởi lẽ không thể nào đoán trước Lê Xuân Đố sẽ có trạng thái như thế nào một giây sau đó.

Ban đầu tôi cứ ngỡ Lê Xuân Đố diễn, nhưng quen lâu ngày mới biết cảm xúc thực sự của ông cứ run bần bật những biến chuyển khủng khiếp như vậy. Tôi nể lắm. Tôi đã từng mưu tính một cuộc làm ăn rằng, nếu lấy nguyên mẫu Lê Xuân Đố để viết thành một kịch bản sân khấu hay một kịch bản điện ảnh thì sẽ rất ấn tượng.

Tuy nhiên, nghĩ đi nghĩ lại, tôi không dám chắc diễn viên nào của Việt Nam có khả năng thể hiện nhân vật như vậy. Nhiều lúc ngồi giữa đám đông ồn ã, chứng kiến Lê Xuân Đố nói như hét vào mặt người đối diện, rồi ngửa mặt lên trời đọc vang vang "nước non một khoảng nuông chiều, cái hôn trong sóng đến điêu đứng bờ", rồi bưng mặt khóc hu hu, rồi ngả ra ghế cười ha ha, tôi cam đoan diễn viên nào đóng được vai Lê Xuân Đố thì hoàn toàn có quyền mơ đến giải Oscar. Hơn nữa, giải Oscar trao cho người thành công đóng vai Lê Xuân Đố không những khẳng định một tài danh siêu đẳng của nghệ thuật diễn xuất, mà có khi còn vinh dự cho giải Oscar!

Nhà thơ Lê Xuân Đố.
Nhà thơ Lê Xuân Đố.

Ngược xuôi dông dài cũng vì tôi muốn nói thêm lần nữa, người duy nhất đóng được vai Lê Xuân Đố chính là… Lê Xuân Đố! Một người quái kiệt chừng ấy mà thơ bình thường như bao người khác thì không phải lãng phí ư? Qua bốn tập thơ đã xuất bản trong vòng 20 năm qua, Lê Xuân Đố tự vẽ chân dung bằng bốn câu: "Quảng Bình nặng lòng tiên tổ/ Hà Thành thất thểu văn chương/ Sài Gòn làm không kịp nhớ/ Trở mình thức mấy quê hương".

Một Lê Xuân Đố ngoài đời thì tôi "kính nhi viễn chi" rồi, nên đành đi tìm một Lê Xuân Đố trong thơ. Tôi lần lượt đọc các tập thơ đều có tựa đề vỏn vẹn hai chữ của ông, từ "Hồn nhiên" đến "Ngọn nguồn" sang "Chạm mặt" và "Giọng muối". Dù trải dài theo thời gian với những cung bậc tình cảm khác nhau, nhưng có một bút pháp xuyên suốt và ngày càng đậm nét.

 Năm 1972, Lê Xuân Đố 29 tuổi đã viết được hai câu đáng nhớ về những đứa trẻ mất tích sau cơn bão: "Tiếng con gọi khắp biển bờ/ Chìm trong nước bạc bao giờ nổi lên". Trên cái đà ấy, thơ Lê Xuân Đố ngày càng bộn bề hơn theo gánh nặng kiếp nhân sinh. Ba vùng đất sinh ra và nuôi nấng Lê Xuân Đố đã hiển thị lên thơ ông ba mảng ký ức vừa đau đáu vừa xôn xao.

Mảnh đất quê nhà Quảng Bình trở đi trở lại trong thơ Lê Xuân Đố như đeo bám, như quặn thắt, như chới với, như âu lo. Đó là nỗi "Nhớ biển chiều hôm" theo bóng cha cồn cào gan ruột: "Chiều không quê lòng dạ ánh lên/ Vẩy cá lưng cha trứng cá mắt lưới/ Giăng từ trẻ thơ lên ba ngồi sóng/ Tưởng đã quá xa như kẻ chạy trốn/ Lưới lại buông lấp lánh chân trời". Đó là niềm "Mẹ và cát" rát bỏng tâm can: "Cây liễu gió mẹ chịu đầu mũi cát/ Thuyền và hải lưu bạn đời phiêu bạt/ Mẹ nỗi chờ găm mảnh ánh trăng". Những câu thơ đan chéo kỷ niệm, đẹp đấy mà buồn đấy, càng đẹp càng buồn. Một đời thơ dù viết cách nào cũng không đủ tỏ bày hết ân nghĩa cố hương. Chỉ cái tên gọi đô thị nhỏ bé thôi, nhưng âm thanh vừa dội vào tai Lê Xuân Đố thì xúc cảm đã giàn giụa từng câu thơ.

Những bài thơ có nhắc đến Nhật Lệ hầu như không còn nằm tách biệt nữa, mà cứ nối nhau lẫm chẫm trong nước mắt. Phía cưu mang "Nhật Lệ độ lượng lạ lùng/ Hơi thở em gió nồm đẫm ướt/ Đau khổ nào không tan". Phía khuất mặt "Nhật Lệ rồi ra ngồi quán gió/ Rượu đẻn vào hồi ức huyên thuyên/ Nhật Lệ rồi người về yên ả/ Mẹ rất gần tâm sự khói hương".

Phía xót thương "Ta trên cát cá ươn đói nắng/ Một xác thuyền phơi cạn cửa sông/ Thanh tân em rờ rỡ hoa hồng/ Tang lễ tình yêu tỏa lừng hương sắc/ Sóng Nhật Lệ liệm tình như lọc/ Đồng Hới hoa hồng dấu vết gai đâm". Ba đoạn thơ trên, trích từ ba bài khác nhau, nhưng hoàn toàn có thể đọc liền mạch, vì những câu thơ hòa cùng một dòng máu đang chảy từng ngày, từng mùa trong huyết quản Lê Xuân Đố!

Mảnh đất Thủ đô gắn bó cả tuổi trẻ Lê Xuân Đố. Ông học Đại học Tổng hợp Văn rồi về làm biên tập viên thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam. Có thể hồn vía Lê Xuân Đố từng treo lơ lửng trên nhành liễu ven Hồ Tây hoặc từng nấp im lìm trong tàng lộc vừng bên Hồ Gươm, nên ông không chỉ "Nhớ Hà Nội" tinh tế: "Có thể người đi không thấy mặt/ Nhưng mùi hoa sữa đã đưa qua" mà còn xem như một nơi để "Về" phấp phổng: "Hà Nội người về rối lá đường thu/ Lạ đến tim mình không dỗ nổi".

Không cần biết Lê Xuân Đố yêu Hà Nội đến mức nào, nhưng một "Cây bàng" bắt gặp tình cờ ở phố Hàng Đậu hay ngõ chợ Khâm Khiên đã làm ông khắc khoải: "Năm cửa ô bổ sung gió bấc/ Heo may bay rát mặt đường/ Nghiền ngẫm cho người thử thách/ Bức tranh phố màu lá bàng đỏ thẫm/ Rớt bên đường giọt máu những ngày qua/ Em má đào ửng duyên phố lạnh/ Hy vọng như gần mùa cưới mùa hoa".

Còn mảnh đất Sài Gòn là nơi Lê Xuân Đố định cư và táo bạo mang thơ lên sóng truyền hình để nhiều đồng nghiệp làm thơ cũng có dịp xuất hiện trên tivi như những diễn viên thời vụ hoặc diễn giả nghiệp dư. Ông tận tụy với vai trò biên tập viên Thơ của Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh suốt bao năm ròng rã, và nhận ra "Sài Gòn sau lưng" nhộn nhịp cũng đầy chất thơ: "Mình đi xa để hồn vơi chút bụi/ Sau lưng mình thành phố bỗng như mơ/ Lòng người như vừa qua sám hối/ Những cơn say cũng dịu quá bất ngờ".

Tuy nhiên, nhịp điệu Sài Gòn ùa vào thơ Lê Xuân Đố không nằm ở những miêu tả hào nhoáng hay bay bổng, mà lặn vào những ưu tư se sắt, từ "Lửa" lứa đôi: "Anh cây đổ vườn mưa/ Tình ngoại ô lạnh cóng/ Em rượu trào vô vọng/ Lửa đen cháy phố khuya" đến "Tình khúc" dở dang: "Bây giờ chuyện cũ đâu đâu/ Mặt nhau lắm thứ che khuất/ Chuyện tình đúc chì trong ngực/ Kẻ lạ vào chật giấc mơ".

Dõi theo hành trình sáng tác của Lê Xuân Đố, tôi thấy thơ ông càng ngày càng ngổn ngang, càng ngày càng có nhiều khoảng trống mỹ cảm. Ví dụ, trong tập "Hồn nhiên" ông viết về hoa quỳnh vênh vang lục bát: "Một đời vắt kiệt mà đi/ Hương bay mi khép nói gì rạng đông/ Đêm qua thơm một tấm lòng/ Tiếc cho kẻ thức mà không thấy gì", thì trong tập "Giọng muối" ông viết về hoa quỳnh chứng minh được giá trị sự trải nghiệm "Có thể hoa giấu mặt người một ngày mở đầu cầu may/ Hoặc tránh cho người cuối ngày đụng mặt/ Chờ thế gian dịu cơn cãi vã/ Hoa nở góc mình sáng tỏ mong manh".

Sau khi nghỉ hưu, Lê Xuân Đố gầy dựng một trang trại ở Bà Rịa để nuôi bò với một giấc mơ phát tài thật lương thiện và thật kỳ vĩ. Tôi rất hồi hộp trước quyết định này của ông, bởi lẽ nhà thơ làm kinh tế thường theo tiến độ từ thất bại từng phần đến thất bại toàn phần, có khi thua lỗ ba tháng của năm nay bằng tổng thua lỗ cả năm trước.

Không phải tôi nói điềm gở, Lê Xuân Đố chưa kịp thấy đàn bò của ông tung tăng đỏ đồng, đỏ núi thì chính ông đã đổ bệnh. Nằm điều trị ở Sài Gòn mấy tháng, ông phải bay sang Singapore chữa chạy tiếp. Trời thương, Lê Xuân Đố cũng tai qua nạn khỏi. Trở lại hồng hào, ông khoe: "Tớ vừa từ cõi chết trở về, không phải trở về chói lọi mà trở về bình thường! Mất mát vật chất ấy quả thật nhỏ nhoi. Đau thương thân xác này quả thật vừa phải!".

Tôi tin, nếu Lê Xuân Đố trở thành chủ trang trại bò giống có hàng tỷ đồng nắm trong tay thì ông cũng chẳng thể nào rời xa thi ca được. Bởi lẽ ông từng day dứt "Hoa Kỳ, thơ Nobel ngàn bản bán không hết. Fahasa Sài Gòn, thơ ký gửi 3 năm chưa nhận được tiền", nhưng ông vẫn khao khát "Gặp lại bạn thơ" chia sớt đắng cay ngọt bùi: "Nhắm chút gì đi/ Đôi đũa say chống qua mùa lụt bão/ Nuôi dưỡng vĩ nhân cũng từ mật máu phù sa/ Nói một lời đi/ Máu người lây nhiễm khủng bố/ May mắn mùi tình sót lại chân rơm/ Hoang tưởng đất trời sót lại câu thơ".

Nhà thơ Lê Xuân Đố bây giờ đã 74 tuổi, vẫn khóc đấy rồi cười đấy. Ông cười bất chợt vì sợ cạn nước mắt hay ông khóc bất ngờ nhằm để dành tiếng cười, tôi chẳng thể phân định. Giữa sự khó rạnh ròi cười khóc của ông, không ít lần trào ra những câu thơ thấm thía: "Loài chó nồng nhiệt hơn hẳn chúng ta/ Trời phú đức tính trung thành/ Ta xúc động và nhiều khi tự ái… Lớn tiếng rủa đồ chó má/ Ta thầm ganh tỵ lòng thủy chung".

Tôi không dám xác tín khi viết mấy câu thơ cho chú chó tên Bim, ông đang cười hay đang khóc, hay là đang nửa khóc nửa cười? Thế nhưng tôi dám cam đoan, khi trái tim ông còn đập trong lồng ngực thì chúng ta không phải lo ông không muốn khóc nữa, không muốn cười nữa cùng cuộc sống đa đoan. Vì ông thường trực phẩm cách nhà thơ, và vì ông là người duy nhất đóng được vai Lê Xuân Đố!

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.