Lê Thị Mây – Nhà thơ của Ngọn nến và cây đèn chai

Mây là tên chị tự gọi mình sau này và nó trở thành một bút danh quen thuộc trong làng văn, Lê Thị Mây. Tên khai sinh của chị là Bông, bà mụ đặt cho ở Nhà thương Đồng Hới năm 1949, khi nữ sĩ tương lai cất tiếng khóc chào đời bên dòng Nhật Lệ. Chị sinh ra ở Quảng Bình nhưng quê gốc là Quảng Trị.

Cứ nghĩ, thơ văn của chị có nhiều tác phẩm liên quan đến lửa đèn, ánh sáng. Này nhé, trong trên hai mươi đầu sách đã xuất bản của chị đã có chín, mười quyển chứng minh điều tôi nói. Đó là các tập thơ "Những mùa trăng mong chờ"; "Ánh sáng đời cây"; các trường ca "Lửa  mùa hong áo"; "Tự khúc ánh sáng"; các tập văn xuôi "Trăng trên cát"; "Mặt trời mọc ở phía tây"...; tập tiểu luận phê bình "Bên ngọn đèn khuya"... Nguồn ngọn nào đã dội vào tâm thức của chị, để ánh sáng và lửa đèn luôn soi tỏa vào từng trang viết ấm nóng tình người?

Tôi chưa từng hỏi chị điều ấy dù hai chị em quen nhau, quý nhau từ lâu. Thời đang còn là lính trẻ đóng quân tại Quảng Trị, tôi đã mê một bài thơ của chị. Tôi tin rằng, nhiều người biết và yêu bài thơ đó. Khi chị là Tổng biên tập của Cửa Việt thì tôi trở thành cộng tác viên thân thiết của tạp chí này.

Đầu năm 1997, tôi về Văn nghệ Quân đội và sau đó ít lâu, chị cũng ra Hà Nội nhận công tác tại Ban Tuyên giáo. Cơ quan chị ở gần Tòa soạn tôi, chị em thi thoảng gặp nhau. Chị về hưu mấy năm rồi, tôi cũng đã cởi áo lính giữa năm 2017. Mấy lần đi chợ Đồng Xa (Mai Dịch) chị ghé thăm tôi, chuyện trò rủ rỉ. Thế mà, tôi chưa một lần hỏi chị về cái điều phát hiện ở trên.

Tôi tự tìm hiểu, bằng cách đọc chị kỹ càng hơn. Hóa ra, cái nguồn cơn của những tên sách có lửa đèn, ánh sáng thật giản dị. Chị viết: "Tôi thường gom những mẫu đèn sáp trên bàn còn sót lại, thắp vào khi chỉ còn thức một mình, hướng tâm linh vào trời đất nhân gian, tìm ý tưởng, cảm xúc thi ca".

Nhà thơ Lê Thị Mây thời trẻ.

Nhà thơ Lê Thị Mây thời trẻ.

Còn nữa: "Cùng với những mẩu bạch lạp, cây đèn chai nhỏ, chân cao, thắp lên có bóng đèn cũng được tôi rất quý, dùng để đọc sách thâu đêm". Ánh sáng bạch lạp và ngọn đèn chai rọi vào những xa xưa, thời mắt sáng, eo thon, tóc đen biêng biếc chảy như suối xuống vai, xuống lưng thanh nữ.

Chị chong thức gần trọn đời người, từ chiến tranh sang hòa bình, giữa dòng chảy hồi ức, trong cam phận đơn chiếc với những dập dềnh, bấp bênh và còn hơn thế nữa, để giữ lấy ánh sáng thiện lành, để không cạn tin yêu cái đẹp. Cuối cùng, hạnh phúc của chị cũng ở đây, chỉ ở đây, chứ không phải cái gì khác. Trời chỉ cho chị những đứa con tinh thần. Sự thiếu thiệt đời thường của một phụ nữ không gì bù đắp nổi đâu, tôi nghĩ thế mà thương chị nhiều.

Bài thơ tôi mê, "Những mùa trăng mong chờ". Tôi đọc nó một mình và cũng từng đọc cho đồng đội nghe nhiều lần: "Anh khoác ba lô về/ Đất trời dồn chật lại/ Em tái nhợt niềm vui/ Như trăng mọc ban ngày"... Bài thơ mang vẻ đẹp dịu dàng mà nhiều người con gái, con trai ở hai đầu thương nhớ của những năm giặc giã khốc liệt thấy mình trong đó.

Sự giãi bày chân thành tới mức những hình tượng thi ca bao la cũng trở nên gần gũi quen thân quá. Tình yêu chẳng hề nhỏ bé chút nào trước đất trời rộng lớn. Và, nó cũng không bị chê là ngoa ngôn sáo rỗng, thế mới tài hoa chứ.

Những năm tháng đạn bom khốc liệt nhưng thơ chị vẫn trong trẻo như buổi sớm làng quê: "Ban mai em nhớ anh/ Một ngày mong vời vợi/ Trời xanh như có lỗi/ Giờ anh đâu ở đâu?". Tuổi hai mươi, năm 1969, chị góp vào làng thơ Việt những câu như thế. Không có bom rơi đạn nổ ùng oàng, chỉ có trời xanh, hoa ngâu, quả thị, chỉ có mỗi ban mai thức dậy thấy mặt trời như vầng thơ đang rực cháy. Những ngân rung dịu dàng của tâm hồn được gửi gắm vào thơ.

Chị đã giữ được cho mình một không gian yên bình trong chiến tranh, khi là: "Chíu chít cành sim quê/ Hẹn lòng nhau tím ngát" lúc khác "Trai làng áo lính về thăm / Cây rơm treo một khuôn rằm cầu hôn…". Sau cuộc chiến, chị thường nhớ về Trường Sơn, nơi mình từng là cô thanh niên xung phong với những vần thơ tươi tắn: "Còn trong nhịp đập bao người/ Tiếng cười năm ấy át trời đạn bom/ Tim đường xuyên dọc Trường Sơn/ Đồng tiền một lúm giận hờn còn riêng...".

Ngọn bạch lạp và cây đèn chai đối với ai nhỏ bé bình thường nhưng với chị thì đó là sự linh ảo. Linh ảo bởi lẽ nó đã truyền cho chị cảm hứng và năng lượng sáng tạo không biết chán nản. Dòng lạch văn chương của chị trôi đi, lúc lặng rãi, khi thao thác trong ánh sáng của ngọn nến và cây đèn ấy. Chị coi tim đèn, một chấm đen tí teo là con mắt chim biết nhìn, biết đọc từng chữ ở bản thảo. Cái chấm đen đó trò chuyện hay nghiêm khắc nhắc nhở chị. Nó gắn liền với số phận của chị, những khúc đoạn gập ghềnh, những khao khát yêu thương và cả bấy nhiêu chìm nổi trong đời.

Không biết đã liền sẹo chưa cái vết thương sâu trong lòng chị? "Lỗi lầm cầm cả lên tay/ Mình em chèo chống tháng ngày nhạt duyên/ Tóc thề nửa mái còn riêng/ Trong tim bao nỗi hồn nhiên héo rồi". Hồn nhiên của thời xa xăm khi cõi lòng còn đủ những đam mê và tin tưởng về sức mạnh của tình yêu. Dịu dàng nữ tính có thể làm thay đổi ham muốn quyền lực, danh vọng của người đàn ông mình yêu thương.

"Chiếc hôn em/ Chiếc hôn em/ Có thể/ Thay những nấc thang thay những vòng nguyệt quế/ Làm xanh lại tóc anh?". Thế mà, trời không cho chị một duyên phận êm đềm, suôn sẻ. Bước qua tuổi hai mươi, qua tuổi ba mươi, rồi tuổi bốn mươi vẫn đơn thân. Mẹ chị, xót xa cho đứa con gái đam mê thơ phú văn chương mà quên bẵng chuyện chồng con đã có lần giận dỗi: "Mây này! Gió này! Mây, gió, rốt ráo chi chi, hứ con...".

Mây là tên chị tự gọi mình sau này và nó trở thành một bút danh quen thuộc trong làng văn, Lê Thị Mây. Tên khai sinh của chị là Bông, bà mụ đặt cho ở Nhà thương Đồng Hới năm 1949, khi nữ sĩ tương lai cất tiếng khóc chào đời bên dòng Nhật Lệ. Chị sinh ra ở Quảng Bình nhưng quê gốc là Quảng Trị.

Không khỏi nao nao khi nghe chị tâm sự: "không đẹp gái, nhưng tôi cũng đâu đến nỗi nào mà không ai ngó ngàng tới. Chỉ tại sách vở, thơ phú đã bắt mất vía và cũng tại tôi không thuận lòng cha, khi cha tôi đã tìm con rể đến hai đám... nhưng cái duyên của tôi vẫn chưa đến".

Và hiện tại.
Và hiện tại.

Chị trở lại với quê gốc, đi dọc những con phố ở Đông Hà nắng gió mà lòng vẫn canh cánh nỗi thiếu hụt chênh chao của cuộc đời: "Tôi chờ duyên chẳng cầm được trên tay/ Niềm hạnh phúc của ngày còn quá trẻ/ Dọc theo phố ai mời nhau ngọt quá/ Tôi biết mình còn chưa đủ đắng cay". Chị ơi, đắng cay biết bao nhiêu là đủ, biết trĩu nặng tới đâu mới có được ngọt ngào.

Thơ Lê Thị Mây nhiều ánh lửa, ánh đèn, ánh nắng, ánh trăng và cũng thấm thía không ít nỗi buồn với những đợi mong. Nhà thơ đích thực không giấu được nỗi niềm riêng tư của mình trong con chữ đâu. "Bên này chân cầu chú cá ngủ lơ mơ/ Hệt chiếc đinh mềm mại và quyến rũ/ Đóng đinh thời gian cùng với nỗi đợi chờ". Và đây nữa, như một chấp nhận cảnh ngộ mà vẫn lấp ló hy vọng: "Tôi ru nỗi buồn như ru hạt đợi nẩy mầm tươi...". Vì thế, chị trân trọng ngợi ca vẻ đẹp hạnh phúc không phải của mình: "Nhà bên hàng xóm ríu rít con/ Vú mẹ yếm hồng câu đối đỏ...". 

Chị dồn tâm huyết cho thi ca. Thành công của cuộc đời chị ở đó, tập "Tặng riêng một người" được Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (1991); trường ca "Lửa mùa hong áo" được Giải thưởng Ủy ban Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam (2003); trường ca "Người sau chân sóng" được Giải Nhất cuộc thi thơ "Đây biển Việt Nam" do VietNamNet và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức (2012). Lê Thị Mây được nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Với chị, viết dù chỉ một câu, một chữ cũng là lao động thơ, lao động cảm xúc. "Thi hứng bật lên, ứa ra nơi đầu bút bởi nghẹn thấu tình thương, vì tình thương, vì lẽ phải ở đời...". Với chị, bản chất căn cốt của thơ không gì khác chính là cảm xúc. Nhịp tim lắc đẩy hình thành nên điệu thức, ngôn ngữ thơ. Với tư cách thi sỹ, chị lắng nghe và có câu trả lời riêng với cuộc sống vốn xưa nay chưa bao giờ phẳng bằng.

Nhiều điều chị viết ra trong và sau chiến tranh như mồ hôi, nước mắt của quá khứ, của hiện tại cô đúc lại, dẫu có đắng mặn, chông chênh nhưng ấm áp tình người. "Chiếc khăn thêu trao ngày lửa đạn/ Gói giấc mơ rất đỗi dịu dàng/ Hai thân thể cháy nồng và im lặng/ Góa bụa chiến tranh vùi dưới đáy cỏ hoang...".

 Có một chiều đông nắng vàng hanh hao và se buốt tôi ngồi với chị bên mé chợ Đồng Xa. Hai ly nước vối. Nhắc chuyện xưa và kể chuyện bây giờ, chị ứa nước mắt. Tôi không biết nói gì hơn với chị, ngoài câu: "Chúng ta còn có trang viết chị ạ". Chị cười, nụ cười có cái lúm đồng tiền hiền lành như lần đầu tôi gặp và gật gật đầu. Nụ cười có ánh sáng khiêm nhường của ngọn nến bạch lạp và cây đèn chai. Có phải thế không chị?

Nguyễn Hữu Quý

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...