Làng văn chương kẻ Mọc

Vùng Nhân Mục có tên nôm là Kẻ Mọc, nằm bên bờ sông Tô Lịch, ở phía Tây Nam của thành Đại La xưa, Hà Nội ngày nay. Cả vùng Kẻ Mọc gồm 5 làng là: Giáp Nhất, Quan Nhân, Chính Kinh, Cự Lộc và Phùng Khoang, nay thuộc các phường Nhân Chính (quận Thanh Xuân cũ) và Trung Văn (quận Nam Từ Liêm cũ), Hà Nội.

Tài danh văn chương vùng kẻ Mọc

Thời chưa có đường nối từ Ngã Tư Sở đi Hà Đông, con đường từ Thanh Oai, Hòa Bình lên Kinh thành Thăng Long chạy qua giữa kẻ Mọc, có chiếc cầu bắc qua sông Tô Lịch. Tại cầu này từng diễn ra ba trận đánh thắng giặc phương Bắc (hai trận vua Lê Thái Tổ thắng quân Minh năm 1426, và trận vua Quang Trung thắng quân Thanh năm 1789).

-nh 2.jpg -0
Lễ hội của làng Mọc.

Kẻ Mọc là đất hiếu học, vì thế có câu: “Lắm lúa Kẻ Giàn, lắm quan Kẻ Mọc”. Kẻ Giàn là làng Trung Kính Hạ, làng thuần nông giỏi thâm canh nên năng suất lúa rất cao. Còn quan Kẻ Mọc, là nói nhiều người Kẻ Mọc đỗ đạt cao được bổ làm quan. Đất này đã sinh ra danh sĩ Đặng Trần Côn, tác giả “Chinh phụ ngâm” (thế kỷ XVII); nhà văn Lê Đình Dao với tác phẩm “Nhân trai văn tập” (thế kỷ XIX); họa sĩ - thi sĩ Lê Thúc Hoạch có tác phẩm “Nông sự toàn đồ” với 23 bức tranh, dưới có ghi 23 bài thơ mô tả cảnh lao động vất vả của nông dân…

Vậy, bước sang thế kỷ XX, có những danh nhân nổi tiếng nào sinh trưởng hoặc có thời gian sinh sống tại vùng kẻ Mọc này?...

Nhà văn Vũ Trọng Phụng (1912-1939) quê Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên nhưng ông sinh ra, lớn lên, làm rể kẻ Mọc và qua đời tại đây. Mặc dù chỉ sống 27 năm và sáng tác trong vòng 9-10 năm, nhưng di sản văn chương ông để lại rất đồ sộ (bao gồm 28 truyện ngắn, 9 tiểu thuyết, 8 phóng sự, 6 vở kịch, 2 tác phẩm dịch…). Ông được đánh giá là một trong những cây bút sắc sảo của chủ nghĩa hiện thực phê phán. Năm 1936, ông kết hôn với bà Vũ Mỵ Nương, con gái một gia đình khá giả ở làng Giáp Nhất (kẻ Mọc). Là con nhà giàu, có nhan sắc, bà được nhiều đám hỏi cưới, nhưng vì mê tài văn chương của Vũ Trọng Phụng, bà đã quyết gắn bó cuộc đời mình với ông, dù biết ông phải rất chật vật mới nuôi được gia đình bằng những đồng nhuận bút ít ỏi.

Vũ Trọng Phụng sáng tác đa dạng: viết kịch, phóng sự, truyện ngắn, tiểu thuyết; nhưng nổi bật là tiểu thuyết. Chỉ trong một năm (1936), bốn cuốn tiểu thuyết của ông: “Giông tố”, “Số đỏ”, “Vỡ đê” và “Làm đĩ” lần lượt xuất hiện trên các báo, phản ánh hiện thực xã hội, thu hút sự chú ý của công chúng. Trong đó,“Số đỏ”xuất sắc hơn cả, được xem như tác phẩm lớn nhất của đời ông. Do mắc bệnh lao phổi, Vũ Trọng Phụng qua đời khi mới 27 tuổi, hiện ông an vị trên đất nhà vợ tại làng Mọc. Ông bà có người con gái duy nhất là Vũ Mỵ Hằng. Tên ông được đặt cho những con đường ở Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Kiên Giang, Đồng Hới.

Nguyễn Tuân (1910-1987) là nhà văn lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam với sở trường viết tùy bút và ký. Ông sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho tại làng Mọc, Hà Nội. Năm 1945, ông tham gia cách mạng, là cây bút tiêu biểu của nền văn học mới. Từ 1948 đến 1957, ông giữ chức Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam.

Tác phẩm của Nguyễn Tuân trước năm 1945 chủ yếu xoay quanh đề tài: Chủ nghĩa xê dịch, vẻ đẹp vang bóng một thời và đời sống ăn chơi. Từ khi theo cách mạng, ông sáng tác nhiều tác phẩm xuất sắc, bám sát thực tiễn chiến đấu và lao động của nhân dân, như: “Tùy bút kháng chiến và hòa bình” (1956), “Tùy bút Sông Đà” (1960), “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi” (1972). Tác phẩm “Vang bóng một thời” (1940) của ông là tập truyện ngắn và tùy bút, được đánh giá cao về giá trị văn hóa và ngôn ngữ, thể hiện vẻ đẹp của một thời đã qua với những thú chơi tao nhã, những phong tục, tập quán mang đậm nét truyền thống.

Ông am hiểu nhiều môn nghệ thuật gồm hội họa, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh. Tác phẩm của ông thể hiện phong cách độc đáo, sự hiểu biết phong phú nhiều mặt, vốn ngôn ngữ giàu có, nghệ thuật dùng chữ điêu luyện. Nhà văn Nguyễn Tuân được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật (1996). Tên ông được đặt cho một tuyến phố ở Thanh Xuân, Hà Nội.

Âm nhạc vút bay trong hòa sắc rực rỡ

Lê Phổ (1907-2001), họa sĩ nổi tiếng trong và ngoài nước, theo trường phái lãng mạn với nhiều tác phẩm đắt giá. Ông sinh tại thôn Cự Lộc, Nhân Chính, (kẻ Mọc) Hà Nội, từng học Trường Mỹ thuật Đông Dương (1925), thiên về tranh lụa, sơn dầu. Ông tổ chức triển lãm tranh đầu tiên tại Hà Nội (1928). Năm 1933, ông giảng dạy ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ông được mời vào Huế vẽ chân dung Bảo Đại cùng Hoàng hậu Nam Phương và vẽ tranh cỡ lớn trang trí ở cung đình Huế (1935). Tranh của ông được trưng bày tại nhiều nước: Pháp, Angiêri, Mỹ. Năm 1937, ông sang Pháp định cư và cưới vợ người Pháp.

untitled-1.jpg -1
Nghi lễ rước kiệu trong "Lễ hội 5 làng Mọc", Hà Nội (Lễ hội được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia). 

Nhà giáo, nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Đạm (1922-2024) sinh trưởng tại làng Mọc. Trong kháng chiến, ông dạy học tại Cao Bằng, sau đó về dạy Trường THPT Phan Đình Phùng, rồi làm cán bộ Sở Giáo dục Hà Nội đến khi nghỉ hưu (1982). Nghỉ công tác, Nguyễn Bá Đạm dồn nhiều tâm huyết cho việc viết sách, viết báo về Hà Nội. Nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc, sinh thời đọc những trang viết của Nguyễn Bá Đạm trong cuốn “Hà Nội thuở ấy”, từng nhận xét: “Bằng lối viết dung dị, hồn hậu, tác giả như dựng lại một bộ phim ký sự về Hà Nội thế kỷ XX với một tình cảm thân thiết, trìu mến”.

Nguyễn Bá Đạm còn có đam mê sưu tầm tiền cổ và những kỷ vật về các văn nghệ sĩ. Đặc biệt, ông là người bạn tri kỷ, tri âm của họa sĩ Bùi Xuân Phái và là bạn tâm giao của 3 danh họa khác trong bộ tứ huyền thoại Nghiêm, Liên, Sáng, Phái. Ông cũng chính là “người mẫu” của họa sĩ Bùi Xuân Phái, được danh họa vẽ chân dung nhiều nhất với 242 bức trên mọi chất liệu.

Ở tuổi 96, ông Nguyễn Bá Đạm được Báo Thể thao - Văn hóa và Quỹ Bùi Xuân Phái trao Giải thưởng Lớn - Vì tình yêu Hà Nội (2018). Là Trưởng ban Quản lý di tích xã Giáp Nhất, ông đã dày công nghiên cứu, hoàn chỉnh hồ sơ các di tích để xin xếp hạng cho cụm di tích làng Giáp Nhất, tích cực tham gia tổ chức “Lễ hội 5 làng Mọc” nổi tiếng Thủ đô (Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia).

Một người con sinh ra tại làng Mọc là nhạc sĩ quân đội, họa sĩ, NSƯT, Đại tá Nguyễn Đức Toàn (1929 - 2016). Ông sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật. Cha ông là nhà điêu khắc, họa sĩ Nguyễn Đức Thục. Anh họ ông là danh họa nổi tiếng Trần Văn Cẩn, nên từ nhỏ ông đã tiếp thu kiến thức hội họa cơ bản. Ông từng học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Năm 1946, ông tham gia Đoàn Kịch Sao Vàng cùng nhạc sĩ Đỗ Nhuận. Trong kháng chiến, ông làm Phó Đoàn Văn công Việt Bắc và nổi tiếng với bài hát “Quê em miền Trung du”. Vốn là một họa sĩ nên nhạc của Nguyễn Đức Toàn lung linh sắc màu: “Hàng cây xanh bao mùa lá đỏ”, “Những ánh đèn qua ô cửa sổ/ Bầu trời đêm cháy bỏng tình yêu...”. Ca khúc như bức tranh “Phố Hà Nội” bằng âm nhạc với nét đặc trưng của đất ngàn năm văn hiến (Hà Nội một trái tim hồng).

Ông viết nhiều ca khúc ngợi ca anh hùng liệt sĩ, như “Biết ơn chị Võ Thị Sáu”, “Noi gương Lý Tự Trọng”, “Ca ngợi Nguyễn Văn Trỗi”, “Nguyễn Viết Xuân cả nước yêu thương”. Nhiều bài hát trữ tình của ông được yêu thích, như “Tình em biển cả”, “Chiều trên bến cảng”, “Mời anh đến thăm quê tôi”. Ông từng tu nghiệp tại Nhạc viện Kiev (Ukraine), viết một số tác phẩm khí nhạc có giá trị. Năm 2011, ông còn tổ chức triển lãm tranh cá nhân lần thứ 8 tại Hà Nội. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn đã được tặng Huân chương Độc lập hạng Ba, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật (2000).

Đặc biệt, vùng này hàng năm diễn ra “Lễ hội 5 làng Mọc” có lịch sử lâu đời, tổ chức từ mùng 10-12 tháng hai âm lịch, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của các làng Mọc, thể hiện tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc và sự gắn kết cộng đồng. Lễ hội bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống như các nghi lễ, trò diễn dân gian, các làn điệu dân ca, các trò chơi dân gian, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, văn hóa của người dân, thể hiện lòng thành kính, biết ơn đối với các vị tiền nhân và thần linh.

Vùng Kẻ Mọc hiện nay có “Câu lạc bộ Dân ca làng Mọc - Quan Nhân” - Không gian sinh hoạt văn hóa dân gian hiếm hoi còn tồn tại trong lòng Thủ đô - do Nghệ nhân Nhân dân Phan Thị Kim Dung làm Chủ tịch, thành lập năm 2009, nhằm bảo tồn và phát triển các điệu hát văn, hát xẩm, múa sênh tiền - những làn điệu dân ca truyền thống của dân tộc từng vang vọng nơi đình làng, gốc đa, bến nước thuở xa xưa.

Hà Cầm Phong

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.