Kỷ niệm với Trúc Thông

Cứ mỗi lần đi qua phố Hồng Phúc (quận Ba Đình, Hà Nội) là tôi lại nhớ đến Trúc Thông. Số nhà 16 phố này là nơi cố nhà thơ Trúc Thông ở nhiều năm trước khi rời về địa chỉ mới ở quận Cầu Giấy. Tôi nhớ bởi đã đến đây chơi rất nhiều lần khi chúng tôi cùng học một lớp ở khóa 9 Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn). Sau đó, khi ra trường, ông về làm việc ở Đài Tiếng nói Việt Nam, còn tôi phiêu bạt qua nhiều nơi.

Vào đại học, chúng tôi nhanh chóng trở nên thân thiết bởi cả hai cùng là dân Hà Nội, chính xác là cư trú ở Hà Nội, còn số đông ở tỉnh khác hoặc cán bộ đi học. Ông không phải học sinh phổ thông lên, mà là bộ đội phục viên. Tôi ở phố Cửa Bắc, chỉ cách nhà ông chừng hơn một cây số nên có điều kiện lui tới hơn các bạn khác ở xa.

Khi chúng tôi đi sơ tán ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, cách nhà hơn 100km thì thống nhất với nhau: Ai về Hà Nội sẽ có trách nhiệm đến nhà người kia xem gia đình có gửi gì thì mang lên cho nhau. Nhưng chỉ tôi làm việc đó mà ông gần như không phải làm lần nào vì luôn rất “nghiêm chỉnh”, không bao giờ xin về Hà Nội, chỉ về khi tất cả được phép, trong khi tôi luôn tranh thủ… chuồn. Bởi vậy mà không ít lần tôi bị lớp trưởng nhắc nhở về tội vô tổ chức, tự ý về Thủ đô đang bom đạn, nguy hiểm. Có lần Trúc Thông nói với tôi: “San ơi! Chi bộ họ thấy mình thân với ông nên nhờ mình nhắc là đừng về Hà Nội nhiều quá. Trên Khoa họ kêu. Các ông ấy nhắc nhiều cũng ngại”.

tr th.jpg -0

Mới gặp lần đầu, Trúc Thông đã dễ gây thiện cảm với đối tượng tiếp xúc bởi phong cách giản dị, thân thiện. Một bên má bị sạm, nhưng có nụ cười rất duyên do một chiếc răng ở phía trong khuyết nên lúc cười cứ thấp thoáng cái lỗ khuyết ấy. Ông hơn tôi 6 tuổi nhưng tỏ ra rất bình đẳng. Vốn có cảm tình với ông từ phút đầu, sau đó thấy ông đã có thơ đăng trong tập “Sức mới” từ trước khi vào đại học, tôi càng nể hơn. Đây là tập thơ xuất bản đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, in những bài thơ của những tác giả trẻ, lần đầu xuất hiện. Hầu hết các nhà thơ thuộc thế hệ chống Mỹ đều có bài trong tập này. Lúc ấy, ai xuất hiện trong tập thì oách lắm. Trúc Thông có bài “Qua vọng gác non cao” đánh dấu những tháng ngày ông khoác áo lính.

4 năm học văn ở Đại học Tổng hợp, về kết quả điểm kiểm tra, thi cử, Trúc Thông không nằm trong tốp có điểm cao nhất bởi ông quan niệm - cũng như tôi - vào đây để tranh thủ đọc sách, thu lượm kiến thức vì không ở đâu có nhiều sách hay, quý như ở thư viện khoa Văn. Cũng không ở đâu tập trung nhiều giảng viên, giáo sư giỏi, uyên bác như ở đây. Còn thì học chỉ cần đạt yêu cầu để lên lớp, ra trường trót lọt, không phải nợ môn nào là được.

Và thế là Trúc Thông lao vào thơ. Không phải là chỉ sáng tác nhiều mà là đọc nhiều thơ của các nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam và thế giới. Có thể nói ông như bị thơ bắt mất hồn. Lúc nào, ở đâu cũng gần như chỉ có thơ là thứ khiến ông trăn trở, đau đáu cứ như là ngoài thơ, không còn gì đáng phải bận tâm.

Lớp tôi ngày ấy có thêm Trần Mạnh Thường cũng làm thơ từ hồi học phổ thông, lại ở cùng phòng nên Trúc Thông gắn bó lắm. Hai người như hình với bóng. Ý Nhi ngày ấy cùng lớp chúng tôi nhưng chưa phát lộ tài thơ. Tôi cũng thích thơ, nhưng phải hay. Gặp một bài thơ, tôi chỉ đọc hết khổ đầu, thấy được mới đọc tiếp. Nhưng tôi thấy Trúc Thông đọc rất kỹ cả những bài tầm thường. Hỏi thì ông nói: “Mình đọc kỹ để xem cái dở khiến bài thơ nhạt là ở chỗ nào, câu nào, vì sao, ở ý tứ hay nghệ thuật sử dụng ngôn từ…”.

untitled_7-1631174105687.jpg -0

Mỗi khi làm được bài thơ mới, Trúc Thông thường đọc cho Trần Mạnh Thường nghe trước tiên, sau đó đến tôi, có khi thêm Lại Nguyên Ân. Thường vốn tính cả nể, chỉ gật gù chứ không nói gì, còn tôi thì thẳng thắn, khen chê rõ ràng. Có lần tôi khiến Trúc Thông mất hứng nhưng ông vẫn nói với Thường: “Cậu chán bỏ mẹ. Không biết có tập trung nghe không mà chỉ gật gù, không khen, không chê. Hãy như Nguyễn Đình San. Nó thích hay không, bộc lộ rõ”.

Chẳng là lần ấy, Trúc Thông mới viết được bài “Giếng tiên” đọc cho cả Thường và tôi cùng nghe: “Giếng tiên em đến mà xem/ Nước trong vắt tự mấy nghìn năm qua/ Đáy nông sẽ rất sâu sa/ Nếu mà bóng của đôi ta soi vào”. Thường gật gù, không nói gì. Tôi phán: “Bài thơ có tứ hay, tình tứ, lãng mạn. Nhưng chữ nghĩa còn gượng. Người ta nói “lời lẽ sâu sa”, “hàm ý sâu sa” chứ không nói cái giếng sâu sa mà nói giếng sâu thăm thẳm. Lại nữa, “bóng của đôi ta soi vào” không ổn. Đôi trai gái cùng soi xuống giếng, hiện ra cái bóng. Vậy thì sao lại nói cái bóng soi vào được. Rõ là khiên cưỡng”.

Trúc Thông tự ái, nói: “Vậy là ông tư duy lô-gic chứ không phải tư duy hình tượng của nghệ thuật”. Tôi không tiếp tục tranh cãi vì thấy ông quá cụt hứng. Ông quay sang Trần Mạnh Thường: “Thường, cậu thấy thế nào? San nó nói vậy nghe được không?”. Thường lại cười: “Thì mỗi người một quan niệm. Tranh luận khó lắm!”. Trúc Thông còn tự ái với Thường hơn cả với tôi: “Ông học văn ra nhưng có lẽ nên làm ngành công đoàn hoặc mặt trận chứ đừng làm văn nghệ, càng không nên làm thơ”.

Sau đó, một lần cả tôi và Trúc Thông cùng gặp Vũ Duy Thông ở thư viện khoa Văn. Tác giả “Giếng tiên” kéo hai chúng tôi ra một gốc cây. Ông vẫn còn cay cú lời phán của tôi về bài thơ nên có ý nhờ Vũ Duy Thông làm Bao Công phân xử. Nhưng tác giả “Bè xuôi sông La” cũng cùng ý nghĩ như tôi. Sau đó, Trúc Thông mới chịu… thua!

Trúc Thông được coi là một trong những nhà thơ đi tiên phong trong việc làm mới thơ. Ông luôn tìm tòi, trăn trở kiếm tìm ý tứ mới mẻ với cách thể hiện sao cho độc đáo, không đi lại vết mòn nhiều người đã đi. Ngay từ lúc còn là sinh viên, ông đã bộc lộ rõ điều đó mà bài “Nghe hát Mễ-tây-cơ” là một minh chứng: “Em đứng bên đại dương xanh thẳm/ Mắt mơ theo sóng đuổi dồn nhau/ Em hát tung lên tầng mây rộng/ Dương cầm biển lớn đệm du dao…”.

Tôi rất thích bài thơ này nên ngay dạo ấy, mới chỉ là người sáng tác nhạc nghiệp dư, đã phổ bài này thành ca khúc “Tình ca Mếch-xích”. Tôi thân thiết với danh ca Trần Khánh bèn hát cho ông nghe với ý nghĩ muốn ông sửa cho hoàn chỉnh để thu trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Nghe xong, ông nói: “Rất hay, rất hoàn chỉnh nhưng để sau này đã. Bây giờ đang chiến tranh, cần những bài sục sôi khí thế, tung bài này ra không hợp. Mình hứa với San đến khi thời cơ cho phép, sẽ đưa ra Hội đồng duyệt nhạc để hát cho San”.

Năm 1981, tôi sực nhớ ra việc này, bèn nhắc lại Trần Khánh. Ông lập tức đem đến Đài và được duyệt vì lúc này không khí âm nhạc trên Đài cho phép dùng những bài tình ca lãng mạn. Nhưng chưa kịp triển khai phối khí, thu thanh thì ông qua đời từ một tai nạn giao thông thảm khốc trong lần đi tiền trạm cho Đoàn Ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam biểu diễn.

Tôi vẫn còn nợ Trúc Thông một lời hứa: Sẽ phổ nhạc bài thơ “Bờ sông vẫn gió” của ông. Bài này ông sáng tác sau sự kiện thân mẫu ra đi vĩnh viễn. Sau đó, Trúc Thông có ý hỏi việc này. Tôi đành thú thực: “Bài thơ hay và nổi tiếng quá, rất nhiều người đã biết nên tôi có phần dè dặt, chưa dám phổ, chỉ sợ giai điệu không chuyển tải được ca từ”.

Nhiều người cho rằng “Cao Bằng” là bài hay nhất trong đời làm thơ của Trúc Thông. Tôi lại thấy “Bờ sông vẫn gió” mới như vậy. Bài này ông sử dụng thể lục bát truyền thống nhưng cách diễn đạt rất mới. Đã đọc nhiều lần nhưng mỗi khi đọc lại, tôi có cảm giác như vừa đọc lần đầu và mắt cứ cay xè bởi nhớ đến mẹ mình. Trúc Thông nói đến sự ra đi của mẹ mà như là nói hộ được tất cả mọi người cùng cảnh ngộ. Vậy nên muốn cách tân, tìm tòi gì thì cuối cùng vẫn phải chạm được vào trái tim công chúng mới mong tác phẩm có được sức sống vĩnh hằng.

Trúc Thông về miền mây trắng đã gần 2 năm (1940-12/2021) nhưng vừa rồi, chúng tôi gặp mặt lớp đại học, thấy như ông vẫn chưa đi xa, chỉ là bận việc gì mà vắng mặt. Kỷ niệm của chúng tôi đầy ắp, lại ùa về…

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.