Kỷ niệm nhỏ về nhà văn Kim Lân

Một buổi sáng, chúng tôi đạp xe tìm đến nhà ông ở sâu trong ngõ Hạ Hồi, cách hồ Thiền Quang không xa. Nom dáng vẻ khắc khổ, nghiêm nghị của nhà văn, nhất là khi ông vừa tiễn chân mấy vị ở Viện Văn học, thoạt đầu ai nấy có vẻ e ngại. Nhưng rồi thấy ông chân tình, cởi mở, lại rất hóm, chúng tôi gọi đùa ông là “Lão Hạc”. 

Sau khi có dăm ba truyện ngắn, bút ký và thơ đi trên tờ Tạp chí Văn nghệ Phú Khánh, sau dịp Tết Nguyên đán Giáp Tý (1984), từ Nha Trang, tôi được Ban văn học Quân chủng Không quân gọi ra Hà Nội dự Trại viết, chuẩn bị cho kỷ niệm 20 năm ngày Không quân nhân dân Việt Nam đánh thắng trận đầu (3 - 4 -1965).

Thời bao cấp khốn khó nhưng ngày ấy, cánh lính không quân mỗi khi ra Bắc, vào Nam thường được vi vu cưỡi AN-26, loại máy bay vận tải quân sự mà nhiều người quen gọi đùa là “tàu chợ nhà giời”. Về đến Quân chủng, chửa thấy “lều trại” đâu, các trại viên được dẫn vào khu “chiêu đãi sở” nằm cạnh ao hồ, cỏ xanh tràn ra cả lối đi.

Nhà văn Kim Lân (đội mũ), tác giả bài viết Nguyễn Minh Ngọc, nhà văn Nguyễn Khắc Trường cùng các trại viên tại Nha Trang (1984).
Nhà văn Kim Lân (đội mũ), tác giả bài viết Nguyễn Minh Ngọc, nhà văn Nguyễn Khắc Trường cùng các trại viên tại Nha Trang (1984).

Hai người một phòng, đêm đến tha hồ nghe ếch nhái ca cẩm. Mấy dãy nhà cấp 4 tuềnh toàng, vách được ngăn bởi những tấm cót mỏng, phòng nhỏ chỉ đủ hai chiếc giường đơn xập xệ, ở giữa kê cái bàn vuông mặt đá cáu bẩn hệt như loại bàn thường thấy trong các cửa hàng giải khát thời chiến tranh. Hóa ra, đây là trạm khách của Quân chủng, dành cho người chờ chực đi tàu bay quân sự, thảng hoặc có cả những cặp vợ chồng trẻ mượn phòng tá túc.

Trạm khách nằm sâu trong ngõ nhỏ từ đường Chiến thắng B52 rẽ vào. Trước đây nó là con đường Tàu Bay lầm bụi, chả hiểu sao ai đó ngẫu hứng đổi sang một cái tên nghe rất ẩm ương, đọc méo cả mồm! Ngó khung cảnh chung quanh rồi nhìn người ngợm rất chi là “bô-nhếch”… mà ngao ngán. Cảm nhận đầu tiên khiến cho sự hăm hở của các trại viên bị tụt mất phân nửa.

Có điều, từ thập niên 60, trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt vậy mà Quân chủng Phòng không - Không quân (Tháng 5-1977, tách thành Quân chủng Phòng không và Quân chủng Không quân. Đến tháng 3-1999, trở lại Quân chủng Phòng không – Không quân) khi ấy đã phát hiện được khá nhiều cây bút trẻ đang công tác dưới các đơn vị cơ sở, gom về lập thành “Tổ gương” chuyên viết gương người tốt, việc tốt. 

Và chính từ cái “bệ phóng” này, một loạt nhà văn tài danh xuất hiện trên văn đàn, như: Đỗ Chu, Lưu Quang Vũ, Thao Trường (Nguyễn Khắc Trường), Dương Duy Ngữ, Hoàng Hữu Các… Bây giờ đến lượt Ban văn học Không quân cũng được lập ra để kế tục truyền thống ấy. Thời ấy, có lẽ đây là điều hi hữu mà chưa một quân, binh chủng nào làm được!

Ổn định xong nơi ăn, chốn ở, một buổi sáng, các trại viên được gọi vào Cục Chính trị Quân chủng dự khai mạc. Đến nơi mới biết đây là trại viết do Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp với Quân chủng Không quân tổ chức. Hèn nào, vừa bước vào hội trường, tôi đã thấy lừng lững ông Nguyễn Đình Thi, Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam, cùng những “cây đa, cây đề” như: Kim Lân, Bùi Hiển, Nguyễn Đăng Mạnh, Hữu Thỉnh, Ma Văn Kháng, Thao Trường, Nguyễn Trí Huân, Trần Ninh Hồ, Vương Trí Nhàn, Vũ Quần Phương, Nguyễn Thị Ngọc Tú…

Đọc tác phẩm của họ, giờ mới được diện kiến các tác giả, trong lòng gã trung úy là tôi ắp đầy sự ngưỡng mộ. Tôi coi đây là kỷ niệm và chút vinh hạnh đầu đời văn của mình. Đặc biệt là cụ Kim Lân, gốc gác ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, Từ Sơn (nay là thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh) tác giả của những truyện ngắn lừng danh như: “Làng”, “Vợ nhặt”… mà nhà văn Nguyễn Khải từng nói là “thần mượn tay người viết”. Vừa gặp ông, tôi mê liền.

Về dự có chừng trên dưới 20 trại viên mới toe, không kể các anh ở Ban văn học như: Hà Bình Nhưỡng, Trần Vinh Khâm, Trần Hợi, chạy qua chạy lại. Điểm mặt thấy có hai giáo viên văn, một phi công trực thăng, còn lại là các sĩ quan, thợ máy, nhân viên kỹ thuật, lính thông tin, khí tượng…

Trong ba gương mặt nữ hiếm hoi, có hai người thuộc biên chế của Trường Trung cao Không quân (sau là Học viện Không quân), đó là Nguyễn Thị Minh Huệ, giáo viên tiếng Nga và Chu Minh Phương, thủ thư (ái nữ của tướng Chu Duy Kính); Nguyễn Ngọc Huyền, chiến sĩ thông tin. Trẻ nhất ở trại là chú em Hà Kim Hợp, mới vài tuổi quân.

Ngày ấy, ngoài sự nhiệt tình hăm hở của những người lần đầu “ra biển lớn”, quẫy đạp ùm ùm, hầu như chưa ai có chút vốn liếng hay kinh nghiệm viết lách gì. Mỗi người được phát vài tệp giấy với cây viết bic, đơn giản vậy thôi. Chưa ai nghĩ đến việc sắm cho mình một cái máy đánh chữ. Đành cặm cụi thức đêm thức hôm, nằm bò ra giường mà “cày, ủi” vậy.

Chết nỗi, thời gian này có một lớp trung cấp quân nhu với khoảng 30 nữ vừa tốt nghiệp cũng đổ bộ về ở trạm khách chờ nhận công tác. Người đông, sinh hoạt nhốn nháo. Nhà cửa, phòng ốc nhiều chỗ cứ thông thống, kể cả nhà tắm. Báo hại cho các trại viên nam “quay” được nhiều cảnh “nóng” chị em tắm, tha hồ mà “bổ túc” mắt... He he.

Tếu táo vậy nhưng chỉ sau hơn một tuần, lác đác đã có người nộp quyển. Hội Nhà văn phân công các nhà văn: Kim Lân, Thao Trường, Trần Ninh Hồ đọc bản thảo của các trại viên. Tôi ở cùng nhóm với Huệ, Phương và Lưu Đức Hài được cụ Kim Lân đọc và nhận xét bản thảo.

Cố nhà văn Kim Lân (trái) trong phim “Làng vũ đại ngày ấy” và cuộc sống những ngày cuối đời tại Hà Nội.
Cố nhà văn Kim Lân (trái) trong phim “Làng vũ đại ngày ấy” và cuộc sống những ngày cuối đời tại Hà Nội.

Một buổi sáng, chúng tôi đạp xe tìm đến nhà ông ở sâu trong ngõ Hạ Hồi, cách hồ Thiền Quang không xa. Nom dáng vẻ khắc khổ, nghiêm nghị của nhà văn, nhất là khi ông vừa tiễn chân mấy vị ở Viện Văn học, thoạt đầu ai nấy có vẻ e ngại. Nhưng rồi thấy ông chân tình, cởi mở, lại rất hóm, chúng tôi gọi đùa ông là “Lão Hạc”.

Cuộc trò chuyện của ông dường như chả dính gì đến văn chương cả, cứ nhẹ nhàng, rủ rỉ. Tôi biết trong 7 người con của nhà văn Kim Lân, có 4 họa sĩ: Nguyễn Thị Hiền, Thành Chương, Nguyễn Từ Ninh, Nguyễn Việt Tuấn…

Mấy anh em trại viên ngồi bệt xuống sàn nhà. Nhà văn vừa gại gại đóm vào chiếc điếu bát sau mồi thuốc lào lắc lư, vừa gật gù góp ý. Bản thảo truyện ngắn “Lạ lùng” của tôi, không thấy cụ gạch hay xóa gì sất, mà chỉ thấy những dấu hỏi đỏ chót bên lề. Thú thực, lúc ấy tôi thấy hoang mang quá; trong đầu chợt nảy câu Kiều: “Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”. Truyện ấy bị đổ, tôi phải viết cái khác để nộp. Về sau, khi đã dấn vào văn nghiệp, đọc lại, tôi mới thấm và càng khâm phục con mắt tinh tường của một nhà văn bậc thầy!

Nhằm giúp các cây bút trẻ hoàn thiện tác phẩm, Quân chủng cho cả trại bay AN-26 vào Nha Trang, nghỉ tại Đoàn an dưỡng 20 Không quân. Hai nhà văn Kim Lân và Thao Trường cùng theo sát các trại viên. 

Vốn rất kiệm lời, trong những ngày bám trại, bậc thầy truyện ngắn Việt Nam thủng thẳng: “Các anh chị thấy gì tâm đắc cứ viết. Chưa in được thì để đấy, rồi sẽ có lúc. Có điều, nhà văn đừng bao giờ là “con hát”, khom lưng cung phụng kẻ có quyền và bọn lắm tiền, vứt!”.  Thấy ông mở lòng, một trại viên liền xen vào: "Cháu nghe nói nhà văn X. tài ba cỡ đó, nhưng dính “tai nạn” văn chương, may nhờ có ông em to oạch giải cứu… không thì toi?".

Tức thì, lão Hạc nghiêm mặt: "Ai bẩu?". Anh giáo nọ ấp úng: "Dạ, hồi cháu ở đại học…!". Lặng đi một lúc, nhà văn mới phì ra cơn thịnh nộ: "Nhà trường dạy các anh… nói láo!". Kết thúc trại, có 15 truyện ngắn được chọn in trong tập “ĐÔI CÁNH TUỔI 20”. Giờ đọc lại thấy ngô nghê. Nhưng nếu không có cái thuở ban đầu vụng dại ấy thì sao có được ngày hôm nay?

 Sách ra, được nhà phê bình Ngô Vĩnh Bình giới thiệu trong bài điểm sách trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Nhờ một câu nhận xét: “Văn anh rất trong sáng!” của cụ Kim Lân khi kết thúc trại mà tôi đủ can đảm dấn bước. Một lần ra Hà Nội, tôi rủ Huệ đến thăm thầy Kim Lân. Mấy bác cháu trò chuyện khá lâu. Ông vui lắm.

Thoắt đã 32 năm. Mấy chục trại viên ngày ấy giờ tản mát mỗi người một phương. Trong số ấy, có hai gã cùng ở một tiểu đoàn (cuối 1975), một người còn theo đuổi nghiệp văn đến tận bây giờ và một người hiện đeo lon thiếu tướng. Đinh Như Thiết ra nước ngoài làm ăn, nhiều năm nay gã cựu phi công trực thăng là một doanh nhân thành đạt ở trời Tây (Rumani) và nghe đâu hắn có vài tựa sách được xuất bản. Số còn lại hầu như rơi rụng hết. Chớp mắt, nhà văn Kim Lân đã khuất núi chẵn 10 năm. Và mới đây thôi, tên ông được đặt cho một đường phố ở Bắc Ninh. Ôi, thời gian!

Nguyễn Minh Ngọc

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.