Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà báo Nguyễn Thành Lê: Người phát ngôn của một thời

Nhà báo Nguyễn Thành Lê, Huân chương Hồ Chí Minh, tên khai sinh là Lê Thanh Thủy, sinh ngày 17-6-1920 tại xã Tiên Tân, huyện Duy Tiên (nay thuộc TP Phủ Lý), tỉnh Hà Nam. Tháng 6 này, tròn 100 năm ngày sinh của ông.

Sử cũ chép, Mùa xuân năm Đinh Hợi 987, vua Lê Đại Hành cùng các quan văn võ về Đọi Sơn cày ruộng với dân, trong khi cày ruộng, bắt được một hũ vàng. Câu chuyện đó như một thông điệp của cha ông gửi tới muôn sau về một tinh thần thân dân, gắn bó với nhân dân; “dân là gốc”. Hũ vàng chính là giá trị tinh thần, là cả nước một lòng để có được “non sông muôn thuở vững âu vàng”. Chính vua Minh Mạng cũng khẳng định rằng, việc cùng dân cày ruộng "thực là chính sự quan trọng của đấng vương giả".

Đọi Sơn thuộc Hà Nam. Hà Nam là vùng đất người Việt cổ đã sinh sống từ vạn năm, nơi còn lưu giữ trong mình nhiều tầng văn hóa vật thể và phi vật thể độc đáo như kho tàng truyện cổ, ca dao tục ngữ Liễu Đôi; múa hát Dậm Quyển Sơn; hát Lải Lèn Bắc Lý; hát Trống quân Liêm Thuận...

Nhưng di sản quý báu nhất truyền đời là con người.

Nhà báo Nguyễn Thành Lê tên khai sinh là Lê Thanh Thủy, sinh ngày 17-6-1920 tại xã Tiên Tân, huyện Duy Tiên (nay thuộc TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam). Bố ông là một nhân viên hỏa xa, một nhà nho, đặt tên ông là Thanh Thủy với tâm nguyện con mình sẽ là dòng nước trong xanh chảy giữa cuộc đời. Mẹ ông là một người thợ xây dựng, từng tham gia xây dựng cầu Long Biên. Bà là người đã truyền cho ông tinh thần quả cảm, không bao giờ chùn bước trước khó khăn; tinh thần kiên quyết, triệt để, tinh thần học tập vươn lên không ngừng.

Tham gia cách mạng năm 1936 trong tổ chức Thanh niên phản đế, làm báo của Tổng bộ Việt Minh, Nguyễn Thành Lê được kết nạp vào Đảng năm 1945, được bầu làm Đại biểu Quốc hội Khóa I trong ngày đầu dựng nước. Vốn tinh thông nhiều ngoại ngữ, có năng khiếu thiên bẩm về báo chí và ngoại giao, ông được cử làm Trưởng ban Báo chí của Đoàn Ðại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Geneve về lập lại hòa bình ở Đông Dương năm 1954; Thành viên chính thức và là Người Phát ngôn của Đoàn Ðại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris về Việt Nam 1968-1973 và tham gia, làm nên thành công trong nhiều sự kiện ngoại giao quan trọng khác.

Nhà báo Nguyễn Thành Lê trả lời họp báo tại Hội nghị Pari năm 1968. Ảnh tư liệu.
Nhà báo Nguyễn Thành Lê trả lời họp báo tại Hội nghị Pari năm 1968. Ảnh tư liệu.

Ông từng được tín nhiệm bầu và giao giữ nhiều trọng trách của Đảng và Nhà nước: Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Khóa IV, Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Khóa VII, Ủy viên Hội đồng Nhà nước... Ở cương vị nào, ông cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình và có những sáng tạo mới.

Ở Hội nghị Paris, nhiều câu chuyện về ba người đã trở thành huyền thoại, đó là các đồng chí: Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Nguyễn Thị Bình. Nếu kể đến người thứ tư, thì không ai khác Nguyễn Thành Lê, Người Phát ngôn. Không ai kể hay hơn, đầy đủ hơn Nguyễn Thành Lê về Hội nghị Pari. Quyển sách “Cuộc đàm phán Paris về Việt Nam” của ông do đó được tái bản nhiều lần. Trong 5 năm Hội nghị Paris về Việt Nam, có hơn 200 phiên họp chính thức, hàng chục cuộc gặp riêng. Hoạt động báo chí trong  Hội nghị Paris là một trong những hoạt động sôi nổi và hiệu quả nhất với 500 cuộc họp báo, 1.000 cuộc trả lời phỏng vấn, hàng trăm cuộc tiếp xúc với các nhân vật có ảnh hưởng xã hội và phóng viên quốc tế khác, mà từ đó sẽ lan tỏa một phong trào ủng hộ Việt Nam một cách mạnh mẽ khắp châu Âu và thế giới. Trong thành công ấy, đóng góp lớn nhất thuộc Trưởng đoàn Xuân Thủy, đồng thời có đóng góp không nhỏ của các nhà báo Nguyễn Thành Lê, Lý Văn Sáu, Hồng Hà, Hà Đăng...

Năm 1940, Nguyễn Thành Lê là phóng viên của hãng ARIP, tiền thân của AFP. Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Thành Lê là Chủ nhiệm kiêm Chủ bút Báo Độc lập của Đảng Dân chủ; Chủ bút Báo Cứu quốc của Tổng bộ Việt Minh; Phó Tổng Biên tập Báo Nhân Dân. Năm 1975 là Tổng Biên tập Báo Giải phóng, tiền thân của Báo Đại Đoàn kết… Khi làm Chủ bút Báo Độc lập, ông đã phát hiện và lấy Trần Kiên về làm phóng viên. Trần Kiên sau này là một phóng viên giỏi, Phó Tổng Biên tập Báo Nhân Dân.

Báo Nhân Dân trong nhiều năm đã xây dựng được cho mình một “kỳ đài” về chính luận. Làm nên kỳ đài ấy có Hoàng Tùng, Nguyễn Thành Lê, Thép Mới, Quang Đạm, Quang Thái, Hồng Hà, Hà Đăng, Hữu Thọ, Phan Quang, Nguyễn Hữu Chỉnh, Diệu Bình, Lê Bá Thuyên và nhiều cây bút nổi tiếng khác .

Nếu như Hoàng Tùng súc tích, đậm đà cách nói dân gian; Thép Mới bay bổng; Quang Đạm chuẩn mực, cổ kính; Nguyễn Hữu Chỉnh hùng hồn… thì Nguyễn Thành Lê khái quát, hệ thống, nhuần nhụy giữa lý luận và thực tiễn. Và chắc chắn một niềm tin, chân thành từ trái tim đến đầu ngọn bút. Dấu ấn Nguyễn Thành Lê còn in đậm trong con tim của những người đồng nghiệp, nhiều người coi ông như “cây vĩ cầm số 2” của Báo Nhân Dân, sau Hoàng Tùng.

Những bài viết của Nguyễn Thành Lê bao giờ cũng thể hiện lập trường kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin. Kiên định không phải là giáo điều mà trên cơ sở bảo vệ độc lập dân tộc và CNXH, bảo vệ lợi ích dân tộc và giai cấp, phải dựa vào thực tiễn, sớm phát hiện quy luật và vận hành cách mạng đúng quy luật. Vào năm 1981, khi chưa có Đổi mới ở nước ta; trong bài viết “Mấy vấn đề về phong trào giải phóng dân tộc” đăng trên Tạp chí Cộng sản số 12 -1981, Nguyễn Thành Lê đã dự báo về một cuộc Đổi mới toàn diện, một cuộc hội nhập quốc tế mà cốt lõi là phá bỏ trật tự kinh tế cũ, thiết lập một quan hệ kinh tế mới trên cơ sở bình đẳng, “bảo đảm được chủ quyền các dân tộc đối với tài nguyên của đất nước”.

Một luận điểm cực kỳ sâu sắc là, độc lập dân tộc chỉ có thể bảo đảm được khi nhân dân lao động được giải phóng (có dân chủ); khi có một chính thể tiến bộ. Ông viết: “Nếu chỉ đấu tranh cho một trật tự quốc tế mới mà không thực hiện sự cải cách đối với cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội ở trong nước, thì không thể đạt được độc lập dân tộc thật sự”.

Cùng với hàng nghìn bài báo tuyên truyền, chỉ đạo về tư tưởng, chỉ đạo phong trào cách mạng trong cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, Nguyễn Thành Lê còn là Chủ nhiệm đề tài cấp Nhà nước về “Quy luật liên minh ba nước Đông Dương: Việt Nam, Lào, Campuchia”; là tác giả, đồng tác giả và chủ biên nhiều cuốn sách như “Các Mác và thời đại chúng ta”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh, người chiến sĩ kiên cường của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế”,”Quốc tế thứ nhất”, “Điện Biên Phủ”, “Việt Nam, một tiêu điểm của chiến tranh tư tưởng phản cách mạng”, “Cuộc đàm phán Paris về Việt Nam”, “Chủ nghĩa đế quốc bành trướng chống Việt Nam”…

Nguyễn Thành Lê ghi tên mình vào lịch sử báo chí cách mạng không chỉ là một cây bút chính luận sắc bén, mà còn là một trong những người có công đầu trong việc xây dựng Hội Nhà báo Việt Nam, người đứng đầu những tờ báo quan trọng trong những thời khắc lịch sử quan trọng. Ngày 21-4-1950, tại xóm Roòng Khoa, xã Ðiềm Mặc, huyện Ðịnh Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã diễn ra Đại hội thành lập Hội Những người viết báo Việt Nam. Ðại hội đã bầu đồng chí Xuân Thủy làm Hội trưởng, các đồng chí Hoàng Tùng và Ðỗ Ðức Dục làm Hội phó. Nhà báo Nguyễn Thành Lê làm Tổng Thư ký và giữ chức này qua hai nhiệm kỳ, cho đến năm 1962.

Hơn 60 năm viết báo, làm báo chuyên nghiệp, Nguyễn Thành Lê nổi lên như một trong những người giữ nhịp trong dàn nhạc giao hưởng báo chí cách mạng Việt Nam. Ông không chỉ để lại một phong cách báo chí chính luận đĩnh đạc của người viết có niềm tin và sở hữu chân lý khoa học, mà còn để lại một tấm gương về đạo đức con người, đạo đức nghề nghiệp.

Giữ nhiều chức lớn nhưng ông luôn sống giản dị, giữ sự liêm khiết như gìn giữ con ngươi của mắt mình. Năm 1976, khi ông được cử vào Miền Nam làm Tổng biên tập Báo Giải phóng, tổ chức bố trí cho ông một biệt thự, nhưng ông từ chối, ở chung phòng làm việc với một phóng viên, đồng nghiệp cũ của Báo Nhân Dân.

Trong dịp gia đình ông hiến tặng các hiện vật cho Bảo tàng Báo chí Việt Nam, tôi bần thần trước những đồ vật của một Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng, không có gì khác biệt với một dân nghèo thành thị; ngoài cái bàn làm việc dài chừng 1,5m bằng gỗ lim có ngăn kéo hai bên. Hoàng Tùng, người bạn thân thiết trong suốt cả cuộc đời của Nguyễn Thành Lê đã viết như  sau: “Là người lãnh đạo nhưng chưa ai bắt gặp anh (Nguyễn Thành Lê) lên mặt, đứng trên người khác để sai khiến mà chan hòa, thân ái, giúp đỡ mọi người, kính trên nhường dưới không tranh chấp với ai, không suy bì hơn kém thân sơ. Chăm lo làm các nhiệm vụ, không đòi hỏi gì với tổ chức. Quý trọng tình bạn, trân trọng chân lý” (“Nguyễn Thành Lê, người chiến sĩ kiên cường trên mặt trận tư tưởng và chính trị” - Báo Nhân Dân, số ra ngày 17-9-2010). Lúc sống, hai ông thường tâm đắc: “Nhân dân là đối tượng phục vụ, không phải để tuyên truyền những điều rỗng tuếch”. Bây giờ thì hai ông đã thành người thiên cổ. Nguyễn Thành Lê mất năm 2006. Hoàng Tùng mất năm 2010.

Sống, hai ông từng ở một nhà, làm việc trong một cơ quan. Chết, hai ông được đặt tên phố ở Phủ Lý. Phố Hoàng Tùng, phố Nguyễn Thành Lê nằm cạnh nhau. Cuối đời, Hoàng Tùng chỉ nhận mình là người viết báo. Nguyễn Thành Lê chỉ coi mình là người cán bộ, nhưng mọi người vẫn không quên ông là Người Phát ngôn.

Nhớ các ông để không viết những điều rỗng tuếch; để phát ngôn tình người và chân lý!

Nguyễn Sĩ Đại

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.