Hoàng Việt Hằng hẹn gì với những đam mê?

Nhà thơ Hoàng Việt Hằng đã thử sức qua nhiều thể loại. Chị viết cả truyện ngắn, tản văn và tiểu thuyết. Thế nhưng, trong những trang bản thảo nặng trĩu của người đàn bà lầm lũi đi về những cung đường cô đơn và xa vắng, thơ vẫn là bản sắc của chị.

Nhà thơ Hoàng Việt Hằng dường như không che giấu điều gì trong những vần điệu ngổn ngang: “Hẹn gì với những đam mê/ mà em bùa ngải viết thuê lần hồi”.

Đàn ông sống bằng nghề viết đã cực nhọc, mà đàn bà sống bằng nghề viết còn cực nhọc gấp bội. Nhiều lần tôi nghĩ về nhà thơ Hoàng Việt Hằng với sự ái ngại như vậy. Làng văn hầu như ai cũng biết mối tình nhiều thăng hoa và lắm cay đắng giữa chị với nhà văn Triệu Bôn.

Sức khỏe của người chồng thương binh bị tai biến mạch máu não di chứng liệt nửa người và gánh nặng của cơm áo gia đình, đã đè xuống đôi vai người đàn bà làm thơ nhọc nhằn. Phải chăng, đó là những “ẩn ức” để chị nương tựa vào trang giấy trắng lạnh lùng và bao dung: “Ngay cả đi bộ/ Câu thơ lẽo đẽo theo sau/ Ngay cả lên tàu/ Câu thơ chập chờn mưa tuyết/ Ngay cả khi bay nghiêng/ Ẩn ức, chập chờn như ánh sao, chập chờn như ánh đèn/ Tôi cầu cạnh bút nghiên/ Run rẩy viết”.

Dù chạy đôn chạy đáo tập viết báo để kiếm từng thang thuốc cho chồng thoát cơn bạo bệnh, nhưng nhà thơ Hoàng Việt Hằng vẫn không thể dành được nhà văn Triệu Bôn ra khỏi lưỡi hái định mệnh nghiệt ngã. Tóc chị bạc dần, mỗi sợi bạc hắt lên nỗi đau dằng dặc, hắt lên thi ca lênh đênh.

Có lúc chị ngỡ mình chìm mãi vào bóng tối cô đơn và bất hạnh, nhưng chị đã trông cậy vùng sáng nhỏ nhoi để đứng dậy: “Em vẫn thấy anh ngồi/ Như dấu chấm than viết ngược/ Lúc ốm đau em đã muốn bỏ cuộc/ Nhưng thấy con tha thủi không đành”.

Nhờ sự hào hiệp động viên của bạn bè, chị tiếp tục dùng thứ vũ khí duy nhất là trang viết, để chống chọi lại những u uẩn và túng bấn đe dọa mình: “Những ngày làm lữ thứ tha hương/ Đi viết nuôi con/ Như người mẹ đi nương/ Rắc ngô và rắc lúa/ Tôi cày trên đồng chữ…”.

Tôi không biết mỗi năm nhà thơ Hoàng Việt Hằng phải cặm cụi viết bao nhiêu bài báo để mưu sinh, nhưng tôi luôn cảm thấy mừng khi thi ca vẫn còn là người bạn đồng hành nâng đỡ chị. Cũng tốt nghiệp Trường viết văn Nguyễn Du, nhưng đường thơ của Hoàng Việt Hằng lận đận hơn nhiều đồng môn khác. Biết làm sao được, sự chênh chao số phận cứ rình rập đánh úp chị, không thể nào cho phép chị toàn tâm, toàn ý với việc sáng tác.

Tôi hình dung nhiều bài thơ của Hoàng Việt Hằng được viết ra, như những tiếng thở dài phía sau bao nhiêu bài báo mỏi mệt. Thật may, chị không bỏ cuộc với thơ, cũng như không giận dỗi với đời. Sau các tập “Những dấu lặng”, “Tự tay nhóm lửa”, “Chuông vọng” và “Một mình khâu những lặng im”, tập “Vệt trăng và cánh cửa” tuyển chọn những bài thơ ưng ý nhất đã giúp Hoàng Việt Hằng nhận được giải thưởng hàng năm của Hội Nhà văn Hà Nội. Thơ Hoàng Việt Hằng không thuộc diện tài hoa lả lướt, nhưng nhiều câu lấp lánh nước mắt khiến người đọc nao dạ!

 Từ những mất mát riêng tư “Số phận ơi/ Người chiến thắng tôi rồi/ Tôi là kẻ thua trận duy nhất mỉm cười/ Trước tỉ số một đèn một bóng”, Hoàng Việt Hằng dễ dàng đồng cảm với những thân phận thua thiệt.

Chị thảng thốt chia sẻ gần gũi xung quanh đô thị nhộn nhịp mà bồn chồn: “Ôi, những ngõ của người nghèo Hà Nội/ Tôi thương yêu bạc tóc lúc nào/ Người đời bảo: nhuộm tóc cho xanh lại/ Tóc có thể nhuộm xanh/ Nhưng vui buồn ngõ xuân/ Sao nhuộm lại?” và dằn vặt thương xót bà lão lầm lũi ở túp lều liêu xiêu vách núi vắng vẻ: “Một đời người bao lần trông đợi/ Nay tóc hắt sương thì chẳng đợi gì/ Chỉ mong trời đừng bắt tội ốm đau chi/ Để trồng lá trồng rau đủ sống/ Chốn tam quan, sân chùa, sông nước/ Chốn mùa đông lặng một phận người”.

Những câu thơ Hoàng Việt Hằng viết ra hầu như không chứng minh một sự tìm tòi chữ nghĩa nào, mà chủ yếu khám phá mỗi hồn người dẫu đơn sơ và hiu hắt bước qua cuộc sống này cũng để lại bao nhiêu bùi ngùi rung cảm. Chị xao xác “Tính” dùm người phụ nữ nông thôn tên Thứ một phép toán đầy chua chát giữa kẻ ăn không hết người lần không ra thời kinh tế thị trường: “Nếu tôi không ngủ ở khách sạn năm sao một đêm/ Đỡ cho chị Thứ một năm không ra làm đồng”.

Nhiều nỗi khắc khoải như vậy, cứ trải dài trong thơ Hoàng Việt Hằng, rất khó phân biệt chị viết cho thiên hạ, hay khóc cho bản thân. Ưu điểm thơ Hoàng Việt Hằng nằm ở sự chân thành, chân thành quan sát, chân thành gánh vác và chân thành giày vò. Tôi nghĩ, trong xã hội chen lấn với nhiều thứ giả tạo vây bọc chúng ta, thì sự chân thành đã là một giá trị để thi ca gắn bó lặng lẽ với cõi nhân gian!

Sinh ra và lớn lên ở Hà Hội, chất nền nã Thăng Long của Hoàng Việt Hằng ký gửi ít nhiều qua những dòng lục bát. Bài thơ “Qua đèo Nai” của chị đã lưu lại lòng độc giả hai câu thơ đắm đuối: “Đám mây như chiếc khăn màu/ Bay hồng cả nỗi nhớ nhau lưng đèo”.

Nhà thơ Hoàng Việt Hằng có thú đam mê đi điền dã.
Nhà thơ Hoàng Việt Hằng có thú đam mê đi điền dã.

Lục bát của Hoàng Việt Hằng không phiêu lãng nữa, mà dùng dằng âu lo trống trải, dẫu ở “Thảo nguyên” mênh mông: “Người chăn cừu hát cho tôi/ Rời rợi cỏ thảo nguyên trôi trong lòng”, dẫu ở miền “Một mình khâu những lặng im” quạnh quẽ: “Em khâu tóc trắng thay lời/ Mỗi khi cúi xuống rã rời nỗi đau/ Con chồng, vợ cũ, đồng sâu/ Lấy chồng lấy cả nỗi đau của chồng”.

Nếu xét riêng dòng lục bát của Hoàng Việt Hằng thì thơ chị phơi bày những vần điệu được khơi nguồn từ mạch ngôn từ tha thứ và cam chịu: “Mẹ ơi, khóc được là mừng/ Tủi hờn bỡn nhẹ lát gừng đỡ cay/ Buổi trưa nắng chiếu chốn này/ Mình con theo gót quan tài mình con”.

 Hoàng Việt Hằng bảo rằng, ham muốn lớn nhất của chị là được rong ruổi. Hành trình ấy có khi giúp chị được thong dong với một chút mơ màng bất chợt: “Bây giờ làng cổ chiều mưa/ Thổ Hà trong giấc mơ xưa đã tàn/ Gốm men vẫn óng mơ màng/ Xếp thành phên giậu tơ vàng mà ru”, mà hành trình ấy có khi thức dậy trong chị những vết thương âm thầm: “Có một bầy sếu gọi nhau ở phía Bắc/ Em leo Vạn Lý rồi về Tây An/ Lỡ hẹn với anh/ Em đi một mình/ Xe ngựa thồ cỏ chở cùng trăng thanh/ Dân ca Tây An nghe rồi vuốt ngực/ Giá mà, giá mà anh sống thêm được/ Cùng em đọc Bạch Cư Dị ở Tây An”.

Thế nhưng, vượt lên tất cả, hành trình ấy cho chị một trái tim ngập ngừng những nhịp đập bơ vơ với ngổn ngang năm tháng: “Đi dọc miền Trung/ Mắt cứ chạm vào những dây phơi/ Áo trẻ nhỏ màu cháo lươn/ Miếng vá còn vương ở tay áo cánh nâu màu bã trầu/… Sau bão đã lâu/ Nỗi đau còn như sóng lật/ Cả chiếc dây phơi”. Và khi đã đi qua vùng thổn thức của kẻ đa đoan, chị nhận lại được một chút thanh thản: “Ta vào chùa thỉnh chuông thắp nến/ Chỉ xin yên tĩnh với trời xanh”.

Tất bật đi về viết ở tuổi không còn trẻ, nhà thơ Hoàng Việt Hằng bộc bạch: "Khi chồng tôi còn sống, những lúc say rượu anh thường bảo tôi, giá như em đừng thật như vậy thì em không khổ, và anh cũng không làm em đau đớn. Nhưng tôi nghĩ, dưới ánh sáng mặt trời, mọi sự cần minh bạch và ta nên minh bạch. Có nhiều người thích tô son, trát phấn, đắp điếm cho đời sống của mình, còn tôi thì không. Giời cho thế nào thì tôi nhận thế đấy, tôi không chối bỏ điều gì.

Tôi đã nhiều lần tìm đến cái chết để được giải thoát, nhưng rồi chính những con người nghèo khổ tôi gặp đã kéo tôi trở lại cuộc sống. Tôi đi miền núi, chứng kiến những gia đình không có nổi 20.000 đồng, có nhà chỉ còn 3 bắp ngô, họ sẵn sàng lấy xuống để nấu cho tôi ăn và tôi nghĩ mình phải sống để viết về họ. Mình sẽ là người đồng hành với họ". Đấy là mơ ước cháy bỏng, còn chính chị lắm lúc cũng hoang mang:“Mười năm không khóc tủi hờn/ Chỉ mong không ngã đường trơn mấy lần”.

 Trên đời, không có nhiều người đàn bà theo nghề viết có được hạnh phúc viên mãn. Nhà thơ Hoàng Việt Hằng biết rằng “Dù em có dụi mắt” thì thực tại vẫn phũ phàng theo kỷ niệm: “Em đã gói kỷ niệm/ gói giọt sương trên lá sen khô/ Gói cả anh và tình yêu hai ta xưa/nhưng gói mãi đến mùa xuân phải mở/ Cho nỗi buồn không héo khô”, nên đành thú thật “Lâu lắm rồi” khi nói với con “Lệch một bờ vai mẹ ngồi so trong đục… /tóc trắng trên đầu quên nhớ cũng như mưa”. Nhà thơ Hoàng Việt Hằng đã nếm trải nhiều lao đao, để những sóng gió bất trắc lặn vào trang giấy trắng thành những câu thơ vỗ về kiếp người nổi nênh!

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.