Họa sĩ Phạm Mùi: Từ lá thư của Thùy đến những bức tranh thời chiến

Từ chối lời ngỏ của các bảo tàng, 50 năm qua, họa sĩ Phạm Mùi cất giữ cẩn thận lá thư của liệt sĩ Đặng Thùy Trâm gửi cho mình vào ngăn tủ, vào chính trái tim mình. Đó là kỷ vật cuối cùng và duy nhất của ông về người bạn tri kỷ.

“Ngày mai nếu được trở về, được gặp lại nhau, Thùy sẽ mời người bạn thân thương đến căn phòng nhỏ của Thùy trên đất thủ đô. Thùy sẽ lại mở cho Mùi nghe bản nhạc ngày xưa. Và Mùi cho Thùy xem những tác phẩm đi ra từ trong cuộc chiến đấu sinh tử hôm nay. Còn nếu như không còn ngày đó nữa thì ai còn sống, người đó sẽ không được quên người đã mất, phải làm gì cho xứng đáng với người đã mất”.

Ngày Thùy hy sinh, ông coi đó như lời trăn trối của Thùy với mình để mang theo, để phụng hiến đến cuối đời.

Phòng tranh trên đường Mai Hắc Đế, TP Đà Lạt của họa sĩ Phạm Mùi ken dày những tranh. Nổi bật giữa những bức chân dung, cuộc sống xứ ngàn hoa là tranh về đề tài chiến tranh. Trong hơn một nghìn ký họa vẽ tại chiến trường Quảng Ngãi đỏ lửa những năm 1966 -1975, bây giờ, ông chỉ giữ  được gần trăm bức.

Họa sĩ Phạm Mùi.
Họa sĩ Phạm Mùi.

Ngày ấy, chàng sinh viên Phạm Mùi gác bút nghiên tại Trường Trung cấp Mỹ thuật Yết Kiêu (Hà Nội) để xung phong cùng các văn nghệ sĩ khoác ba lô hành quân vào chiến trường Quảng Ngãi. Trong đoàn còn có hơn 70 bác sĩ, y sĩ, trong đó có bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Ký họa kháng chiến của Phạm Mùi có rất nhiều tranh về cuộc chiến đấu, sinh hoạt đời thường, chân dung của đồng đội và người dân vùng chiến sự. Đó là cảnh bộ đội đánh chiếm cao điểm, cảnh cô y tá chăm sóc thương binh, là phút giao lưu văn nghệ của các chiến sĩ, là các mẹ, các chị vá áo cho bộ đội...

“Hồi đó, mỗi bức tranh chỉ ra đời trong thời gian ngắn nhưng đầy cảm xúc và sức sống. Tôi vẽ thường xuyên để không bỏ lọt một khoảnh khắc nào. Tuổi trẻ chúng tôi, nhất là sinh viên, sôi nổi bước vào cuộc chiến khi lồng ngực đầy ắp lý tưởng và những điều thiêng liêng” – ông nhớ lại.

Trong chùm ký họa kháng chiến, họa sĩ Phạm Mùi vẽ vô số bức về Đặng Thùy Trâm. Đó là bức vẽ lúc chị ca hát ven đường bên cây guitar của nhạc sĩ Thanh Đính để động viên tinh thần đồng đội, lúc chị say sưa lắng nghe ông phân tích chuyện thơ văn nhạc họa hay cảnh chị ân cần bón cháo cho thương binh... Ông yêu thầm người con gái dịu dàng, sâu sắc, dễ mến mà đầy dũng cảm ấy. Nhưng với chị, ông là một người bạn thân thiết, bên nhau chia ngọt sẻ bùi trên chiến trường lửa đạn. Chị mến bởi tìm thấy niềm đam mê văn chương, nhạc họa ở ông, gặp nhau ở cái lý tưởng, sự lãng mạn, bay bổng của tuổi trẻ “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.

Có những đêm, giấc mơ thực tại đưa ông về phút chia ly ngày Thùy nhận công tác ở Đức Phổ. Sau đôi lời bịn rịn, Thùy ra đi. Ông đứng lặng bên vách đá ven rừng, nhìn dáng Thùy nhỏ bé với chiếc nón lá bình thản nhòa dần trong trời chiều. Hoàng hôn êm ả mà lòng ông nghe có tiếng nức nở, gào thét. Thùy đang đi vào nơi tàn khốc nhất của chiến trường Quảng Ngãi.

Ông họa lại cơn mơ ấy trên mặt toan: Thùy hiện lên kiên cường giữa một màu đỏ ối của vùng trời mù mịt lửa đạn. Thùy hay hát bài “Em là hoa pơ-lang”. Những lúc ấy, ngắm Thùy véo von trên chặng đường hành quân, chàng họa sĩ ngỡ cô bác sĩ xinh đẹp là đóa hoa đỏ tươi, rực rỡ giữa rừng già. Và dù chưa nhìn thấy hoa pơ-lang bao giờ nhưng Phạm Mùi cứ nghĩ mãi về một loài hoa đẹp, đầy sức sống vươn lên khi vẽ Thùy. Những bức tranh ấy ông đều dành tặng chị. Tiếc là đến nay, tranh về Thùy đều thất lạc gần hết.

Sau ngày thống nhất đất nước, ông bắt đầu vẽ tranh về thời bình, về cuộc tái thiết của đất nước. Thế nhưng, mang theo bức thư của người bạn tri kỷ, ông trăn trở phải làm sao để vẽ những tác phẩm xứng tầm với thời đại, với cuộc chiến mình đã trải qua,  phải làm gì xứng đáng với người đã mất như lời Thùy nhắn nhủ. Tranh về quê hương, chân dung con người thời bình thưa dần nhường chỗ cho ngày tháng bom đạn năm xưa quay về.

Vẽ về thời chiến, ông mới thực sự sống lại với một thời thanh xuân nhiệt huyết ra đi vì tiếng gọi Tổ quốc, mới trả hết nợ với một lớp người đã sống chết vì hai chữ Tự do.

Ký họa “Chiếm cao điểm” (vẽ năm 1972).
Ký họa “Chiếm cao điểm” (vẽ năm 1972).

Năm 1985,  họa sĩ Phạm Mùi quyết định vẽ ba bức tranh sơn dầu kích thước lớn để dự Triển lãm mỹ thuật toàn quốc. Đó là bức “Đấu tranh đòi nợ máu”, “Nha Trang ngày giải phóng”, “Lá thư nhà đến đảo Trường Sa”. Tại Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1985, “Đấu tranh đòi nợ máu” được trao Huy chương Đồng.

Ông tâm sự: “Bức tranh tôi giành nhiều tâm huyết nhất là bức “Đấu tranh đòi nợ máu”. Đó là bức tranh mà tôi suy ngẫm từ những năm tuổi trẻ mới dấn thân vào chiến trường Quảng Ngãi quê hương mình. Trung tâm bức tranh là một bé gái 13 tuổi, cơ thể đầy vết thương và máu. Người bế em là một lão nông dân lam lũ đang bàng hoàng ngơ ngác. Đi bên họ là thiếu phụ lệ nhòa cố nén nỗi đau đớn vô tận, nhà sưđang thầm nguyện cầu, là một bé gái 8 tuổi vung tay thét gào, là một thiếu nữ ngóng về phương trời xa để tìm trong không gian lời đồng vọng.

Đoàn người như vô tận, những chiếc nón tơi tả, những vành khăn tang, những thân dừa tả tơi cụt ngọn, một bầu trời vần vũ như sắp đổ sập xuống bởi muôn tiếng sấm... Trong tranh chỉ có những người dân hiền lương không một tấc sắt đang đối diện với tội ác của quân thù. Trong vỏn vẹn bốn ngày đêm thức trắng thể hiện bức tranh, nước mắt tôi cứ tuôn trào”.

Trái ngược hoàn toàn không khí tang thương của “Đấu tranh đòi nợ máu”, bức sơn dầu “Ngày hòa bình thống nhất” (vẽ năm 2002) mang màu sắc tươi vui. Bức tranh theo bút pháp hiện thực, tả cảnh đoàn tụ sum vầy của đồng bào, bộ đội trước Dinh Thống Nhất ngày 30-4-1975. Nhân vật trung tâm là bà mẹ miền Nam rưng rưng đón đứa con bộ đội vào lòng. Làm nền cho hai nhân vật chính là nhân dân Sài Gòn đang reo mừng trong biển cờ hoa, náo nức ngày đất nước trọn niềm vui. Hiện, các bức tranh tiêu biểu của họa sĩ Phạm Mùi đều được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Quân khu 7...

Những bức tranh của họa sĩ Phạm Mùi thường vẽ về sự đau thương, mất mát trong chiến tranh. Bởi bao lần ông khóc trước dòng chữ ám ảnh của Thùy: “Cuộc chiến tranh thật là tàn khốc, cũng như Mùi, Thùy căm thù đến bầm gan, tím ruột kẻ nào đã gây chiến, kẻ nào đã cướp đi tất cả từ hạnh phúc đơn sơ nhất đến những gì quý báu nhất của mọi người.

Bao nhiêu là mất mát, bao nhiêu là đau thương, nói sao cho hết được hở Mùi? Lật lại từng trang nhật ký, Thùy gặp rất nhiều những lòng vùi nặng trĩu đau thương căm thù, thấm mặn nước mắt. Tất cả cũng vì chiến tranh!”.

Thế nên, tranh của ông gửi đi thông điệp hóa giải hận thù, mong muốn mọi người trân trọng những giây phút bình yên và đừng bao giờ quên: chiến tranh không phải trò đùa. Trong tranh của Phạm Mùi cũng đầy ắp hình ảnh người dân lành vùng lên chống lại cái ác, chống lại cường quyền bạo ngược. Ông tin, chính quần chúng nhân dân chứ không phải ai khác mới là người quyết định vận mệnh dân tộc.

Phan Thi Uyên

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.