Họa sĩ, nhà nghiên cứu mỹ thuật Trang Thanh Hiền: "Tôi tự tài trợ cho mình!"

Họa sĩ, PGS.TS Trang Thanh Hiền hiện là giảng viên Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam. Ngoài công việc giảng dạy, chị là một nhà nghiên cứu mỹ thuật cẩn trọng và đam mê với mỹ thuật cổ truyền thống mang màu sắc tôn giáo. Không những thế, chị còn là một họa sĩ đầy đam mê với mảng sáng tác sử dụng chất liệu truyền thống và chị đã "thổi" vào đó hơi thở đương đại với sức sống tươi trẻ, mới mẻ...

- Thưa họa sĩ Trang Thanh Hiền, chị có thể kể cho độc giả Văn nghệ Công an đôi nét về hành trình "bén duyên" tìm hiểu, nghiên cứu về mỹ thuật cổ truyền thống gắn với tôn giáo của chị?

Họa sĩ, nhà nghiên cứu mỹ thuật Trang Thanh Hiền.
Họa sĩ, nhà nghiên cứu mỹ thuật Trang Thanh Hiền.

+ Tôi là người làm nghiên cứu từ khá lâu năm rồi. Đó là năm 1998, song song với việc dạy học, tôi có một đam mê là nghiên cứu mỹ thuật cổ. Khi tôi bắt đầu, không có người "chỉ tay" hay dẫn đi, mà chỉ vì thích tự mày mò thôi. Tôi cảm nhận đó là một thế giới ngay bên cạnh mình, thường trực trong cuộc sống, trong xã hội quá ít người hiểu rõ. Chính vì thế tôi cảm thấy cần và muốn được khám phá.

Trong những năm từ 1998 đến 2002, tôi đi điền dã nhiều lắm, đi gần như hết các đình, đền chùa ở miền Bắc, Hà Nội cũng như các tỉnh lân cận như Bắc Ninh, Hà Tây, Hưng Yên... đều đi hết. Lúc đầu đi thì không hiểu gì mấy, cứ đi và chụp ảnh thôi, rồi dần tìm hiểu qua sách vở của các nhà nghiên cứu mỹ thuật như Trần Lâm Biền, Chu Ngọc Trú... Đến năm 2000, tôi mới làm luận văn Thạc sĩ về hình tượng Quan Âm và đó chính là bước khởi đầu của tôi trong nghiên cứu về mỹ thuật Phật giáo. Lúc đó mới bắt đầu đi nghiên cứu tài liệu ở thư viện Phật giáo bên chùa Quán Sứ, đi phỏng vấn và cánh cửa bắt đầu mở ra. Đến năm 2005 thì cuốn sách đầu tiên ra đời "Hình tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn ở Việt Nam". Thật vui vì cuốn sách được đánh giá cao ở thời điểm lúc bấy giờ bởi tính tổng kết, đánh giá sự phát triển của nghệ thuật tạo tác tượng Quan Âm, cũng là cuốn sách được giải thưởng của Hội Xuất bản.

- Cuốn sách thứ 4 nghiên cứu về mỹ thuật cổ của chị là "Nghệ thuật tạo tác tượng Phật trong các ngôi chùa Việt" vừa được giải thưởng của Hội Mỹ thuật Việt Nam. Điều gì trong cuốn sách này khiến chị tâm đắc nhất?

+ Tôi tự nhận thấy thế mạnh của tôi so với các nhà nghiên cứu lịch sử, di sản, khảo cổ đó là nghiên cứu về giá trị tạo hình của mỹ thuật cổ. Mỹ thuật cổ của Việt Nam rất đồ sộ, gắn với đình, chùa, miếu mạo và văn hóa dân gian, nhưng để "đọc" ra được các giá trị về nghệ thuật, chỉ ra được phong cách, sự liên quan giữa đời sống xã hội với mỹ thuật, hình tượng nghệ thuật đó trong bối cảnh lịch sử mới là điều khó. Vì thế, tôi tiếp tục nghiên cứu cho đến khi ra đời được cuốn "Nghệ thuật tạo tác tượng Phật trong các ngôi chùa Việt" xuất bản năm 2020 thì tôi mới thấy thoải mái với chính mình.

Ở Việt Nam có một thực tế là: Sách nghiên cứu người ta viết rất nhiều nhưng lại chỉ dành cho đối tượng nghiên cứu thôi, chứ ít khi độc giả phổ thông đọc mà hiểu chứ chưa nói đến thích nó. Cuốn "Nghệ thuật tạo tác tượng Phật trong các ngôi chùa Việt" của tôi sở dĩ được giải của Hội Mỹ thuật là vì mọi người đánh giá là cuốn sách nghiên cứu nhưng lại rất phổ thông, dành cho đại chúng. Tức là tôi giải thích về mỹ thuật một cách dễ hiểu nhất, cho cả những người không có quá nhiều kiến thức về mỹ thuật, khảo cổ qua từng thời kỳ: Lý, Trần, Lê, Mạc, Nguyễn... Tôi cũng có gắng bước đầu đưa ra được những hình tượng, biểu tượng của Phật giáo Việt Nam trong mối tương quan với Phật giáo Thế giới, để xem giá trị của tượng Phật giáo Việt Nam nằm ở đâu?

- Để có thể làm được việc đó, chắc hẳn chị phải dành thời gian, tâm huyết như thế nào cho việc nghiên cứu tượng Phật giáo của Thế giới?

+ Để vươn ra được với thế giới bây giờ dễ lắm! Thực ra là trên thế giới đã có sẵn tài liệu hết rồi, chỉ có người Việt không tổng kết được thôi. Việc của tôi chỉ là đặt cái tượng của Việt Nam bên cạnh, trong hệ thống và so sánh với tượng của thế giới tiêu biểu như Nê-pan, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Myanmar, Lào... Mọi người luôn nói về tượng Phật Việt Nam là ảnh hưởng của tượng Trung Quốc, nhưng với tôi thì phải "định danh" được, phải chỉ ra được nó ảnh hưởng của thời Đường, Minh, Thanh như thế nào. Ví dụ như pho tượng của chùa Phật Tích với các kiểu thức ảnh hưởng cụ thể từ gương mặt đến tạo hình nếp áo, có bằng cớ hết chứ tôi không thích nói chung chung.

Cuốn sách "Nghệ thuật tạo tác tượng Phật trong các ngôi chùa Việt" của họa sĩ, nhà nghiên cứu mỹ thuật Trang Thanh Hiền được nhiều người chú ý.
Cuốn sách "Nghệ thuật tạo tác tượng Phật trong các ngôi chùa Việt" của họa sĩ, nhà nghiên cứu mỹ thuật Trang Thanh Hiền được nhiều người chú ý.

- Theo quan sát của tôi, họa sĩ - nhà nghiên cứu Trang Thanh Hiền là một phụ nữ đầu tiên "bươn chải" với con đường nghiên cứu lịch sử mỹ thuật tôn giáo. Hiện tại, chị đã có trong tay 4 cuốn sách nghiên cứu về mỹ thuật truyền thống - dân gian, chị có dự định sẽ tiếp tục theo đuổi con đường đầy khó khăn này không?

+ Tôi chỉ chăm chú vào việc mình làm, cũng không để ý lắm đến người xung quanh! Nhưng tóm lại: đã là nghiên cứu thì phải "say". Không "say" không làm gì được đâu! Nhất là phụ nữ thì có nhiều rào cản lắm!

Khi tôi làm cuốn sách "Nghệ thuật tạo tác tượng Phật trong các ngôi chùa Việt", lúc đó con trai tôi mới 2 tuổi. Nó đòi hỏi mẹ ở cạnh nhiều như thế nào thì chắc mọi bà mẹ đều biết. Đầu tiên thì tôi cũng định "láu cá" vì có bạn bè, học trò rất nhiều ở chỗ này chỗ kia, nên cũng định nhờ bạn đi công tác ở các địa phương chụp ảnh cho. Bạn bè cũng rất nhiệt tình giúp đỡ vì biết mình con mọn, không thể một chốc một lát mà lên đường được. Nhưng cuối cùng vẫn không làm thế được, vẫn bỏ con ở nhà để đi 1 tuần miền Trung và 1 tuần miền Nam để hoàn thiện nốt cuốn sách đang chuẩn bị lên khuôn. Đã làm nghiên cứu thì không thể không cầu toàn được!

 Tôi vẫn đang ấp ủ cuốn sách tiếp theo là cuốn "Nghệ thuật tạo tác trong kiến trúc chùa Việt" theo lối phổ thông, theo một cách rất dễ hiểu dành cho tất cả mọi người. Vì khi người dân hiểu được thì mới yêu, mới có ý thức bảo vệ, giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống.

- Trong quá trình đi nghiên cứu mỹ thuật cổ của Việt Nam hơn 20 năm qua, chị có tìm thấy dấu ấn cá nhân của người nghệ sĩ sáng tạo Việt Nam xưa không?

+ Có chứ! Thông thường các nghệ nhân xưa làm cho các đình đền chùa thì họ không bao giờ ghi danh mà đều ẩn danh vì coi đây là một việc "húy kỵ". Duy chỉ có pho tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn ở chùa Bút Tháp là độc nhất vô nhị có ghi "Trương Tiên sinh phụng khắc", (niên đại 1656). Nhưng đối với mỗi pho tượng có thể mô thức là chung nhưng vẫn có dấu ấn riêng của cá nhân, mang nhãn quan, dấu ấn tâm hồn riêng của người tạo tác ra chúng chứ không như các pho tượng thường được làm theo lối "công nghiệp" như bây giờ!.

- Quá trình đi nghiên cứu, chị nhận thấy mỹ thuật cũng như các pho tượng ở các ngôi chùa Việt đã thay đổi như thế nào trong thời gian qua?

+ Thay đổi chóng mặt luôn ấy chứ! Thực ra, đấy cũng là một xu thế thời đại mình cũng không cực đoan được. Đình, đền, chùa thì ở nhiều nơi họ cần phải sang sửa, làm mới, giống như một người không thể ở mãi trong cái nhà dột được. Nhưng mà hiện nay nhiều ngôi chùa sư trụ trì không muốn chùa vào danh mục di tích, di sản. Bởi vì vào rồi sẽ không được tùy tiện sửa theo ý họ nữa. Người ta sơn sửa, bỏ tượng cổ đi, thay vào những pho tượng mới rất to lớn, hoành tráng, vì cho rằng thế mới đẹp. Trùng tu thì "hợp lòng sư, hợp lòng dân" và đây vẫn là một câu chuyện dài không có hồi kết!

- Với 4 cuốn sách nghiên cứu về mỹ thuật truyền thống - tôn giáo được nghiên cứu kỳ khu, vất vả, tốn kém, chị có nhận được nguồn tài trợ nào không?

+ À không nhé! Tôi là nhà tài trợ của chính mình, tự tài trợ cho mình chứ không có một nguồn kinh phí nào! Nhưng tôi cũng khá may mắn, vì như cuốn "Cửu phẩm liên hoa" được giải thưởng nên bù được 2/3 tiền in cuốn sách đó. Đến cuốn thứ 4 là cuốn "Nghệ thuật tạo tác tượng Phật trong các ngôi chùa Việt" thì có kết hợp với nhà sách Thái Hà để in ấn hành nên cũng không mất tiền in. Còn tất cả đều hoàn toàn là tâm huyết cá nhân từ lúc đi sưu tầm, nghiên cứu, đến khi công trình ra đời. Nhưng nếu làm mà không theo sở thích, đam mê, không được tự do thì không làm được đâu! Nhận được tiền tài trợ để làm nghiên cứu cũng dễ rơi vào tình trạng "đẽo cày giữa đường" lắm! Và tôi thì không muốn thế!

- Xin cảm ơn họa sĩ, nhà nghiên cứu Trang Thanh Hiền!

Nguyệt Hà (thực hiện)

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.