Họa sĩ, nhà điêu khắc Mai Chí Tẩu : Cũng là hạnh ngộ

Trước khi đến nhà ông, tôi nói với mấy người bạn đồng hành: “Ông này tên Tẩu, chắc có nghĩa là chạy. Còn Chí Tẩu, có khi có nghĩa là chạy chí mạng, chạy thục mạng chăng? Cái tên mới đọc lên, thoảng nghe đã có màu sắc của một người dân tộc thiểu số hoặc một người Việt gốc Hoa”.

Đến khi gặp ông, hóa ra những suy luận của tôi cũng không hoàn toàn võ đoán. Hay nói đúng ra: Chỉ đúng một nửa và sai một nửa. Ông là Mai Chí Tẩu - họa sĩ, nhà điêu khắc thuộc diện “già làng, trưởng bản” của tỉnh Hòa Bình.

Ông bảo: “Tôi là người quê gốc Mỹ Đức (Hà Tây cũ, Hà Nội bây giờ). Thủa thiếu thời, tôi gắn bó với bến Đục, suối Yến, động Hương Tích. Vị bùi thơm của rau sắng, vị ngọt thơm của những quả mơ, vẫn làm tôi nhớ và tiếc nuối đến tận hôm nay”.

Rồi ông nhẩn nha đọc lại những câu thơ của thi sĩ Tản Đà, Nguyễn Bính một thủa: Muốn ăn rau sắng chùa hương/ Tiền đò ngại tốn con đường ngại xa/ Người đi ta ở lại nhà/ Cái dưa thời khú cái cà thời thâm và Thơ thẩn đường chiều một khách thơ/ Say nhìn xa rặng núi xanh lơ/ Khí trời lặng lẽ và trong trẻo/ Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ”.

Ông bảo: “Những câu thơ tuy chỉ thiên về kể, tả như thế, nhưng lại có vần, có điệu, mang một vẻ đẹp dân dã, rất dễ nhớ, dễ thuộc và rất dễ đi vào lòng người. Và có thể bởi vậy mà chúng vẫn còn đi cùng năm tháng”.

Ông bảo: “Nhà tôi có ba anh em trai. Hai người đầu đặt tên là Xu, Xèng và đến tôi là Chinh – những cái tên rất “nôm”. Khi 3 – 4 tuổi, tôi rất hay đi chơi và hễ rời nhà là cứ cắm cổ mà chạy. Vì thế, mọi người gắn cho tôi một cái tên khác: Tẩu. Khi chọn tên chính thức của mình, tôi thêm Chí vào cho nó lạ. Từ đó, mới có tên đầy đủ là Mai Chí Tẩu như bây giờ. Đối với hôm nay, có thể là chuyện lạ. Nhưng ngày ấy, có khi một đứa trẻ đã 6 – 7 tuổi, các bậc sinh thành mới nghĩ đến việc làm giấy khai sinh cho con, lại là chuyện hết sức bình thường”.

Trước 1954, Mai Chí Tẩu là học sinh phổ thông Trường Nguyễn Văn Tố. Thời điểm ấy, ông đã có dịp làm quen với một số sinh viên của Trường Mỹ thuật Đông Dương. Với ông, họ là như những bậc đàn anh đầy ngưỡng mộ và ông ao ước: Biết đâu, có một ngày nào đó…

Năm 1967, trước khi cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ diễn ra tại miền Bắc một năm (1968) và sau khi Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam một năm (1966), như nhiều thanh niên mang ý chí: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” thuở ấy, Mai Chí Tẩu nhập ngũ, rồi đi B (chiến trường miền Nam). 

Do có ưu thế về mặt ngoại hình và có ít nhiều năng khiếu bẩm sinh, ông được phiên chế vào bộ phận tuyên huấn của Công trường 7 (Sư đoàn 7). Ông bảo: “Địa bàn hoạt động của đơn vị tôi ngày ấy chủ yếu tập trung ở Tây Ninh, Thủ Dầu Một. Khu vực này thuộc B2, là nơi đầy rẫy bom rơi đạn lạc và là nơi khốc liệt của chiến trường”.

-  Thế khi là trợ lý văn hóa, văn nghệ ở Công trường 7 thì nhiệm vụ chủ yếu của ông là gì?

-  Phụ trách một bộ phận văn công.

-  Hoạt động chính của bộ phận này ra sao?

-  Chuẩn bị các tiết mục tự biên tự diễn và phần lớn nội dung là tập hát chèo. Với anh em chúng tôi thời điểm ấy, hát chèo được coi là sở trường và thế mạnh. Đơn giản vì thành phần xuất thân đều là nông dân. Một khi đã là nông dân thì có mấy ai mà không biết và không thích hát chèo. Chúng tôi thường lên lịch biểu diễn vào những khi đơn vị chuẩn bị bước vào chiến dịch và khi kết thúc chiến dịch với mục đích: Động viên, khích lệ tinh thần chiến đấu và chào mừng chiến thắng…

-  Sao không là anh chị em chúng tôi mà chỉ là…anh em chúng tôi?

-  Trong chiến trường, toàn đàn ông là đàn ông, kiếm đâu ra nữ, vì thế mà chỉ có “anh em chúng tôi” thôi! Nhưng rồi để làm phong phú thêm cho đội hình diễn viên, tôi nảy ra sáng kiến: Đột nhập vào ấp chiến lược, vào vùng địch tạm chiếm vận động chị em nhập cuộc cùng chúng tôi. Một số chị em vì coi đây cũng là một nhiệm vụ của quân giải phóng, nên đã nhiệt tình hưởng ứng.

Cuộc “trao đi đổi lại” của chúng tôi tạm dừng khi ông Mai Chí Tẩu vào nhà,  mang ra một bộ sưu tập huân, huy chương các loại, dễ có đến vài chục tấm. Rồi ông gọi tên từng tấm một.

Tôi thực sự ngạc nhiên khi nghe ông khoe: “Trong số này, có cả huy chương “Dũng sĩ diệt cơ giới”, “Dũng dĩ diệt Mỹ” của tôi đấy. Chắc anh coi đây là chuyện lạ của tôi phải không? Ồ, không có gì lạ đâu. Đã vào chiến trường, dù ở cương vị nào, vị trí nào, ai chẳng cầm súng, ai chẳng là lính chiến. Bản năng sống của người lính đã buộc chúng tôi có tâm thế như vậy. Nếu mình không tiêu diệt nó thì nó sẽ tiêu diệt mình. Lý sự đối đầu, đối kháng chỉ đơn giản và dễ hiểu thế thôi!

Trong mấy lần bị vây, phá vây, tôi đã bắn cháy một xe tăng của đối phương và tiêu diệt được 5 lính Mỹ cả thảy. Tuy vậy, trong những năm tháng gian lao ấy, nhớ dai nhớ dẳng đối với tôi lại là những cơn đói. Có dạo, chúng tôi thiếu ăn đến mức phải mút quả cám (một loại quả giống quả bàng) để “cầm hơi” qua ngày thực sự.

Có dạo, chúng tôi thiếu ăn đến mức phải mạo hiểm chui vào lòng địch, sẵn sàng đổi tính mạng của mình để để kiếm đồ ăn, thức uống cho đồng đội. Thời quân ngũ, tôi cũng có những kỷ niệm khó quên. Năm 1968, có lần trở về đơn vị chỉ còn mỗi một cái quần xà lỏn. Năm 1969, có lần tôi suýt bị kẻ thù bắt sống đấy!”.

Nói đến đây, giọng ông như chùng hẳn xuống: “Nhưng tôi vẫn là người may mắn. Chính ở nơi “xưa nay chinh chiến mấy ai về”, tôi đã trở về và chính ở nơi một mất một còn đó, tôi đã gặp được những tên tuổi như Huỳnh Phương Đông, Lê Lam, Cổ Tấn Long Châu…và học được nghề họa sĩ và nghề điêu khắc theo lối “cầm tay chỉ việc” và theo lối thực hành sinh động.

Hồi ấy, ở hậu cứ, mỗi khi được phục vụ các thày, tôi vui lắm. Đã không ít lần, tôi đi tìm kiếm đất mối (đất ở tổ mối) như đi tìm kiếm niềm vui, để các thày làm tượng. Rồi ước mơ trở thành họa sĩ, nhà điêu khắc của tôi như được nhen nhóm từ đấy. Tôi nghĩ, với một người như tôi, được gặp các thầy, cũng là hạnh ngộ. Có khi không có các anh ấy thì không có tôi sau này, cũng nên…”.

*

Mai Chí Tẩu gắn bó với mảnh đất Hòa Bình từ năm 1955, khi ông mới 18 tuổi, khi thành phố này chỉ mới manh nha thị xã, mới chỉ có đường đất và tất nhiên là hoang sơ lắm. Hồi ấy, đã có những người lính khi đóng quân ở đây mà mỗi khi viết thư về cho người thân, thường mở đầu bằng một câu tuy rất hóm nhưng cũng rất thực tế: “Rừng núi âm u, thầy bu kính mến…”.

Đến năm 1977, khi ra quân với quân hàm trung úy, Mai Chí Tẩu lại trở về sống và làm việc ở Hòa Bình. Từ năm 1978 cho đến lúc nghỉ hưu, ông là Trưởng phòng Văn hóa của thị xã Hòa Bình thuộc tỉnh Hà Sơn Bình. Khi trở lại quê hương thứ hai của mình, ông thực sự hết mình vì cái nghiệp mà ông lựa chọn theo con đường tự học (kể cả việc ông tự học Pháp văn).

Tranh của ông đã tham gia nhiều triển lãm và đã đoạt một số giải thưởng. Còn về mảng điêu khắc, tượng đài nói chung, ông để lại nhiều dấu ấn. Ông là tác giả của 8 – 10 tượng đài và phù điêu, trong đó có các tượng đài: Bác Hồ, Hoàng Văn Thụ, Lý Tự Trọng được đặt ở một vài địa điểm ở tỉnh Hòa Bình.

Ở tuổi xấp xỉ 80, ông còn là tác giả  của hai bức phù điêu có kích cỡ 25m x 5,5m ở Nghĩa trang Chiến dịch giải phóng Hòa Bình sắp khởi công nay mai. Ông bảo: “Đó là một câu chuyện kể bằng chất liệu lịch sử, được thể hiện cụ thể bằng hình ảnh, bằng hình khối, đường nét cụ thể đặng chiếm cứ không gian. Đó cũng là những việc làm thiết thực, có ý nghĩa ở chặng cuối cuộc đời tôi”.

Do có những đóng góp lâu năm, miệt mài từ rất sớm của mình với một vùng đất nên ông được coi là “già làng, trưởng bản” trong các hoạt động văn hóa văn nghệ của tỉnh Hòa Bình. Cho nên, cũng không phải ngẫu nhiên mà ông trở thành người đầu tiên được trao huy chương vì sự nghiệp văn hóa văn nghệ của tỉnh Hòa Bình.

Ông nói: “Tôi là người thích làm việc, không bao giờ chịu ngồi yên và không bao giờ róng riết về tiền bạc. Tuy nhiên đời tôi, lúc về già, vẫn là người may mắn. Sau khi người vợ đầu của tôi, vì bệnh tim, không may mà mất, tôi đã tục huyền. Người vợ thứ hai của tôi là bà Nguyễn Thị Hồng Lựu. Bà không chỉ là người yêu văn chương mà còn năng động, kinh doanh giỏi. Tôi luôn coi bà là một hậu phương vững chắc của tôi. Người đời bảo: Sau sự thành công của một người đàn ông luôn có bóng dáng của một người đàn bà, là thế!”. Tiếp nối Mai Chí Tẩu, con gái ông (Mai Thu Vân) đã trở thành nhà điêu khắc tài năng và hiện là Phó trưởng Khoa Điêu khắc Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam. 

Đặng Huy Giang

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.