Họa sĩ Nguyễn Xuân Tiệp: Khai phá một không gian khác

Họa sĩ Nguyễn Xuân Tiệp là một trong số ít gương mặt tài năng đại diện cho nghệ thuật tạo hình Việt Nam trong các bảo tàng nghệ thuật danh giá thế giới từ những thập niên 90 của thế kỷ XX.

Tranh của ông được lưu giữ tại: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia Singapore, Bảo tàng Nghệ thuật Queensland, Australia, Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia Malaysia, Bảo tàng nghệ thuật Biblioteca Archivio - Italia... trong những bộ sưu tập cá nhân lớn của người Việt và nước ngoài.

Với phẩm chất thầm lặng cống hiến cho nghệ thuật, trong những năm qua họa sĩ Nguyễn Xuân Tiệp vẫn miệt mài với sáng tạo trong hội hoạ và liên tục có những seri tác phẩm mới được trưng bày. Năm 2015, 2016 là 2 triển lãm cá nhân “Độc Thoại” của ông. Có lẽ trong thế hệ mình, ông là người vẫn còn giữ được lửa đam mê sáng tác cháy bỏng với tinh thần mạnh mẽ. Mới đây nhất, triển lãm “Mặt Lạ” bao gồm 43 tác phẩm hội họa giá vẽ khổ vừa và lớn được giới thiệu với công chúng Thủ đô.

Họa sĩ Nguyễn Xuân Tiệp.
Họa sĩ Nguyễn Xuân Tiệp.

“Mặt Lạ” không phải là một cuộc trưng bày tranh “chân dung nhân vật” theo cái nhìn tả kể đơn thuần. “Mặt Lạ” là một cuộc bóc tách sự thật bên ngoài để tìm kiếm sự thật trong sâu thẳm. Hội hoạ của Nguyễn Xuân Tiệp là cái Đẹp của sự bí ẩn, tính ẩn dụ, và trên hết đó là vẻ đẹp của một hồn cốt Việt. Trong dòng chảy tư duy lớn của ông, mỹ cảm của dân tộc luôn là điều ông đau đáu, tìm kiếm. 

“Mặt Lạ”- Nguyễn Xuân Tiệp là một sự kiện mỹ thuật quan trọng trong đời sống tinh thần của giới chuyên môn và cũng mở ra không gian nghệ thuật chất lượng cao dành cho những người yêu nghệ thuật đích thực. Đi vào tranh Nguyễn Xuân Tiệp là bước qua cái thực tại để tới một chiều không gian khác; Là sự giao hoà linh khí của vạn vật. Ở đó trời đất, con người, cây cỏ chỉ có một tiếng nói chung, tiếng nói của trạng thái tinh thần và xúc cảm.

Ông thường nhắc nhớ về hoạ sĩ Trần Trung Tín (1933-2008) một cách tôn trọng nhất. Tuy hội hoạ của ông và Trần Trung Tín là hai con đường khác biệt nhưng dường như điểm chung của hai nghệ sĩ chính là: Coi vẽ là làm nghệ thuật thuần tuý. Chỉ có nghệ thuật thuần tuý mới cho ông tiếp tục khai mở những tầng sâu còn ẩn khuất trong tâm khảm.

Một tác phẩm trong series “Mặt Lạ” của họa sĩ Nguyễn Xuân Tiệp.
Một tác phẩm trong series “Mặt Lạ” của họa sĩ Nguyễn Xuân Tiệp.

“Mặt Lạ” được hình thành từ trước năm 1996 cho tới 2020. Những tác phẩm trong loạt tranh này được ông chọn lọc sau 24 năm ngẫm ngợi và thực hành để trưng bày, thêm một dấu mốc tạm thời. “Từng ấy năm gây dựng, dung dưỡng một nhánh tinh thần giữa nhiều nhánh khác đang cùng phát lộ, vậy nguyên cớ nào, năng lượng nào đã giúp ông toả mình tận hiến? Trong ông có nhiều cơn thôi thúc, chúng là nguyên do chính, nguồn năng lượng gốc mà ông chưa bao giờ bận tâm lý giải cho tường tận. Ông bận tâm cho việc vẽ. Ông đã có một Tình Yêu lớn. Đó cũng là hạnh phúc của người nghệ sĩ”. Nguyễn Sơn đã viết về ông như vậy.

Sự hồn hậu mộc mạc của giấy dó, dưới bút pháp của họa sĩ Nguyễn Xuân Tiệp trở nên biến ảo, kỳ lạ. Ông đã tạo ra một không gian mới cho chất liệu truyền thống Việt Nam, không gian của tâm tưởng. Nhưng gương mặt lạ mà quen, quen mà lạ. Đó là những gương mặt phản ảnh nhiều chiều kích của đời sống đương đại, phức tạp, hỗn loạn và luôn biến đổi. Người nghệ sĩ Nguyễn Xuân Tiệp luôn đi tìm câu trả lời cho chính mình giữa những biến loạn của đời sống. Và vì thế, ông không ngừng vẽ, không ngừng làm mới mình.

“Mặt Lạ” - một ý tưởng hội hoạ khác biệt

Hội họa của Nguyễn Xuân Tiệp dựa trên những chiêm nghiệm, chứng thực và chuyển thể dị biệt. Trong triển lãm này với gần 50 bức tranh bao gồm chất liệu giấy dó và acrylic, là tập hợp các tác phẩm vẽ trong nhiều năm từ 1996 - 2020 để nói lên câu chuyện “Mặt lạ” hay chuyện cõi nhân gian thông qua tín ngưỡng Mẫu và đường nét trong hội họa. Phải chăng tác giả muốn cho chúng ta tiếp cận không chỉ không gian mà cả tiến trình thời gian của một đề tài liên quan đến những khuôn mặt từ đời thường đến tâm linh.

“Mặt lạ” không phải là chân dung bề ngoài mà là diễn biến nội tâm và nét là ngôn ngữ chính, xuyên suốt.

Hành trình đi tìm bản ngã của mình đưa Nguyễn Xuân Tiệp đến với nét trên các họa tiết cổ, hoa văn trống đồng. Ở đó ông thấy sự tinh tế, minh triết của văn hóa Việt. Học nét, vẽ nét đến lúc nét như là mình. Có lúc nét ào ạt, tùy hứng, lúc khác lại chậm rãi, khúc chiết. Khi thì tương phản to-nhỏ, lúc lại lan tỏa trộn lẫn. Nét có lúc câm lặng rồi bừng sáng. 

Chân dung tự họa như vui, buồn, cô đơn, giác ngộ, hoang dã… như rồng, như thú, như chim, như đang say… Đâu đó xuất hiện những con vật góp chuyện như chim như cá tung tẩy múa ca, thủ thỉ và ranh mãnh. Có những chân dung người nào đó tư lự, ngơ ngác… Khi lại là câu chuyện của nhân duyên… Người phụ nữ trong tranh đi từ đời thường (tức giận, lạnh lùng..) đến (nhẹ nhàng, thuần khiết…) như Thánh nữ. Và cao hơn cả là Mẫu. 

Mỗi bức tranh đem lại những trạng thái cảm xúc khác nhau. Nhưng khi hợp lại ẩn dụ câu chuyện lớn. Họa sĩ Nguyễn Xuân Tiệp đã chạm đến bản ngã của mình. Hội họa của ông là hội họa của tâm tưởng thông qua nét vẽ giàu biểu cảm. Ta chờ xem những ý tưởng mới từ ông. 

Xét về bối cảnh Việt Nam: Mỹ thuật đang nằm ở đâu trong Nghệ thuật tạo hình thế giới? Chỉ có một cách là tự thân. Chỉ có người Việt bằng văn hóa Việt mới có thể chinh phục được. Một nền nghệ thuật lớn mạnh chỉ trông chờ vào một vài cá nhân. Tôi chia sẻ quan niệm đó với họa sĩ Nguyễn Xuân Tiệp. (Nguyễn Xuân Long).

“Mặt Lạ” của họa sĩ Nguyễn Xuân Tiệp

Sinh ra từ huyền bí, không gian án ngữ nơi tâm trí trong tranh của họa sĩ Nguyễn Xuân Tiệp như một thực thể nguyên thủy trỗi dậy hay một cõi hỗn mang vô định hình. Lúc tinh khiết, khi đặc quánh, khi thô lậu, khi lồi, khi lõm… mà sinh diệt chuyển động tiến hóa không ngừng.

Trong sự tiếp biến của không gian đấy, Nét được tạo khởi. Nét lúc này không phải là nét. Đó là cái mới mà tôi cảm thấy trong loạt tác phẩm lần này, so với trước đây, của họa sĩ. Nét ở đây là Ánh sáng, thứ ánh sáng được hoài thai như một tinh linh thuần khiết, biến vô hình thành hữu hình, hình thành (những) Mặt “Lạ”. Bất giác tôi tự hỏi, phải chăng trước khi ta là Ta thì những gì được nhìn thấy và cảm thấy đều là mặt Lạ. Để rồi, ta luôn mơ tưởng, sợ hãi, giận dữ, tiếc nuối, hồ nghi, mải miết kiếm tìm hay chối bỏ khuôn mặt đó - là Ta hay là Lạ?

Bộ tranh này của họa sĩ Nguyễn Xuân Tiệp cho ta sự day dứt đâu là khuôn mặt Lạ, đâu là Ta. Vấn vương trong Ta có Lạ và trong Lạ ta tìm thấy Ta? Lạ mà Ta, Ta đó nhưng cũng Lạ! Câu hỏi đó có thể sẽ luôn day dứt. Vô vàn khuôn mặt Lạ sẽ tái sinh trong Ta và trở thành chính Ta, thật Lạ? (Trịnh Minh Tiến)

Mặt lạ, mặt ai?

Nền cốt miên viễn của hồn Dó Việt, tự khi nào đã có nơi cư ngụ an nhiên theo bản thể Giời cho Nguyễn Xuân Tiệp. Cây đàn muôn điệu buông nhàn. Ngọn bút như bùa chú gọi ngũ cung, ngũ sắc, ngũ hành cuốn theo tam, tứ tấu thả bùa mê cho những giấc mơ hoa chợt hiện. Hồn Dó mang hồn bạn và tôi cứ lãng đãng thường ngày. Đâu là cuộc sống trần gian, đâu là ảo mộng ở chín tầng trời? Phiêu lãng mắt em cười, bạn tôi mơ như vọng miền xanh thẳm. Nhạc nhân gian nơi mười hai bến nước đợi người. Em lạ, bạn tôi lạ và trăng kia cũng lạ. Nào, cứ thả mình cho hồn Dó vây quanh. Nhịp sống trần gian, nhịp sống Giời cho sống. Hồn nép theo hình, Dó thả tới trời xanh… (Họa sĩ Lương Xuân Đoàn)

Việt Linh

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...