Họa sĩ Hồ Thị Xuân Thu: Say đắm men rừng Tây Nguyên

Thật tình cờ tôi gặp họa sĩ Hồ Thị Xuân Thu tại Festival Huế (5-2019). Chị có tới 9 tác phẩm được chọn để phối trên những tà áo dài trong chương trình biểu diễn. Những họa tiết và hình tượng tranh sơn mài của Hồ Thị Xuân Thu đậm sắc màu Gia Lai và Ba Na rất gây ấn tượng với bạn bè quốc tế. Hiện chị là nữ hoạ sĩ duy nhất ở Tây Nguyên chuyên vẽ tranh sơn mài.

Mười năm đi tìm mình

Đó là vào những ngày mùa đông năm 1985, vừa tốt nghiệp cao đẳng Mỹ thuật Huế, Hồ Thị Xuân Thu lên Pleiku nhận nhiệm vụ. Bắt đầu những chuỗi ngày rét mướt gió mưa thử thách cô gái miệt sông Hương ở tuổi 25. Khi ấy, bên những con phố nhỏ còn là rừng cây suối vắng. Heo hút gió với bụi đất đỏ. Ở lại hay trở về quê hương?

Thân gái dặm trường liệu có chịu được những gian khổ nơi rừng thiêng nước độc này. Nhưng khi được gặp họa sĩ Xu Man (người Ba Na) và xem tranh của ông, Hồ Thị Xuân Thu bừng dậy niềm đam mê nghệ thuật. Chị bắt đầu vẽ những bức tranh đầu tiên về cô gái Tây Nguyên. Những sắc màu hồn nhiên về xứ sở đầy sương và hoang vu.

Sau đó như trời định, Hồ Thị Xuân Thu gặp được người đàn ông của đời mình, đó là nhà nhiếp ảnh Trần Phong. Hai người gắn bó với nhau và dấn thân vào con đường mưu sinh. Đó là những chuyến đi xuống bản làng bằng xe đạp. Cả hai vượt qua đèo dốc vào những nơi đồng bào dân tộc sinh sống. Người chụp ảnh. Người thì vẽ ký họa chân dung. Chính từ đây nữ họa sĩ trẻ bắt đầu hòa nhập với những tục lệ và lễ hội của đồng bào Tây Nguyên.

Đúng như lời dậy của thầy Xu Man, đời sống sẽ dậy ta những điều quý giá nhất. Hồ Thị Xuân Thu đã tiếp thu được những vốn sống sâu sắc. Ròng rã những tháng năm vừa làm việc cơ quan vừa đi thực tế, nhiều cảm xúc thôi thúc niềm say mê sáng tạo trong tâm hồn người họa sĩ trẻ.

Đêm đêm, những hình ảnh của lễ hội Pơ Thy hay lễ hội Cầu mưa luôn hiện về trong giấc mơ. Tiếng cồng chiêng ngân vang rạo rực bên những cây nêu cùng điệu xoang rộn ràng luôn văng vẳng bên tai. Rồi đó là những buổi sớm các cô gái đi gùi nước từ dưới suối luôn ríu rít tiếng cười. Tất cả tràn lên mặt tranh của Hồ Thị Xuân Thu.

Sau khi kết hôn và sinh con, vợ chồng Trần Phong và Hồ Thị Xuân Thu vẫn thực hiện những chuyến đi xuống buôn làng để mưu sinh và tích lũy vốn sống. Những năm khốn khó dần vượt qua. Hồ Thị Xuân Thu luôn khát khao vẽ và muốn thể hiện tình yêu của mình với mảnh đất Gia Lai đầy nắng và gió.

Nhưng dường như những thử thách vẫn còn ở phía trước đối với Hồ Thị Xuân Thu. Chị luôn trăn trở trong việc kiếm tìm con đường sáng tạo riêng về nghệ thuật. Những bức tranh sơn dầu hay bột mầu về đề tài Tây Nguyên chưa thể hiện được hết sự cảm nhận của chị về con người và cuộc sống nơi đây.

Cho dù cuộc mưu sinh cứ cuốn đi với bao vất vả khó khăn trên miền đất bazan, nhưng tâm hồn người họa sĩ luôn ấp ủ những dự định sáng tạo. Những ký họa ghi chép trên mọi nẻo đường như một sự nhắc nhở và thôi thúc Hồ Thị Xuân Thu. Hiểu niềm khao khát của vợ, nhà nhiếp ảnh Trần Phong đã khuyến khích Hồ Thị Xuân Thu quay về Huế học Đại học Mỹ thuật. 

Nhập vào “Hồn núi”

Những năm tháng trên giảng đường đại học, Hồ Thị Xuân Thu đã học ngành sơn mài và theo đuổi cho đến ngày nay. Có thể nói chị đã tìm đến nghệ thuật tranh sơn mài như món quà của thượng đế ban cho.

Ngay từ phút đầu xem tranh sơn mài, Hồ Thị Xuân Thu đã bị hút hồn. Những hình ảnh già bản cùng các phụ nữ Gia Lai trong các lễ hội bỗng hiện lên. Họ nhập vào chiều sâu thẳm của nền tranh sơn mài dịu dàng.

Những bức tranh tưởng tượng ấy dần dần được hình thành các bố cục. Tiếp theo đó là những ngày đêm Hồ Thị Xuân Thu còng lưng mài tranh. Vẻ đẹp tranh sơn mài quả là điều bí ẩn. Nó rất phù hợp với sự ám ảnh của những người phụ nữ lầm lũi đeo gùi trên đường về bản.

Hồ Thị Xuân Thu cho tôi xem những bức tranh sơn mài mà chị làm ròng rã vừa ủ vừa mài suốt cả tháng trời. Tác phẩm “Lên rẫy” ra đời trong cảm xúc bồi hồi khó tả. Chị kể đó là những vốn sống khi vào bản để học hỏi về những trang phục của người Gia Lai. Từ cách nhuộm vải đến những họa tiết dệt thổ cẩm. Nhất là sự biểu cảm từ những đôi mắt của người đàn bà đầy sức sống và thân thương.

Một nét thâm trầm trên gương mặt thể hiện nội lực của người phụ nữ Tây Nguyên phải chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, chăm lo cuộc sống từ tập tục mẫu hệ xa xưa. Từ đó Hồ Thị Xuân Thu dồn hết tâm trí sáng tạo hình ảnh người phụ nữ - một biểu tượng của sức sống Tây Nguyên.

Hồ Thị Xuân Thu dẫn tôi ra xem bức tranh “Hồn núi”. Nền tranh được đắp sơn sống tạo nên chất sần sùi hoang dại rất Tây Nguyên. Hình ảnh người mẹ địu con đến trước hang núi với những lời cầu khấn thần linh mong cho cuộc sống bình yên. Thông điệp bức tranh là hãy xóa đi những ký ức chia ly và buồn đau. Thần núi, thần rừng hãy cho những linh hồn đã ra đi được siêu thoát. Cuộc sống còn ở phía trước. Tương lai đang chờ đón trẻ thơ.

Tác phẩm “Men rừng”. Sơn mài của Hồ Thị Xuân Thu.
Tác phẩm “Men rừng”. Sơn mài của Hồ Thị Xuân Thu.

Cũng trên mạch cảm xúc này mà những bức tranh “Lễ Pơ Thy” (lễ bỏ mả) ra đời. Để dựng được bức tranh về đề tài này, họa sĩ Hồ Thị Xuân Thu đã tham gia không biết bao lần lễ hội. Đó là tập tục chia tay vĩnh viễn những người đã chết. Đến nay chị còn thuộc được những câu lễ của thày cúng trong lễ bỏ mả. Bên cạnh đó hình ảnh những chiếc gùi được chị vẽ với nhiều bố cục khác nhau như một vật bất ly thân của người phụ nữ Tây Nguyên.

Ta có thể ngắm họ ở những sắc màu đỏ, đen, vàng, bạc và cẩn trứng rất tinh tế trong tranh sơn mài của Hồ Thị Xuân Thu. Những bức tranh tiêu biểu trong cả trăm bức sơn mài của chị như: “Men rừng”, “Hồn núi”, “Lễ Pơ Thy”; hay như “Sưởi nắng”, “Bên nhà mồ”, “Lên rẫy”; hoặc “Miền nắng gió”, “Nước mát”…. Đó đều là những tác phẩm chị vẽ từ năm 1997 cho đến nay và đoạt nhiều giải thưởng của Trung ương (Hội Mỹ thuật Việt Nam) và địa phương (Hội Văn nghệ Gia Lai).

Ám ảnh sắc màu

Tranh của Hồ Thị Xuân Thu không có nét gồ ghề táo bạo của chất liệu sơn dầu khi vẽ về mảnh đất và con người Tây Nguyên. Nhưng người xem lại cảm nhận được sự khắc khoải khuất lấp của hình ảnh người dân tộc trên núi cao.

Cùng với đó là nét hoang dại thật thi vị được miêu tả qua những sinh hoạt đời sống thường nhật của họ. Người xem dễ bị bắt mất hồn vía khi ngắm các tác phẩm “Giã gạo” hay “Tắm” hoặc chùm tranh “Thiếu nữ Tây Nguyên”…

Những tấm thân trần được phủ lên những lớp vàng bạc hay cẩn trứng mờ ảo tạo nên sự kỳ thú về hình tượng. Đó là sự ám ảnh về độ sâu của chất liệu sơn mài. Đúng như cố họa sĩ Nguyễn Gia Trí đã nói “Chất liệu chiếm một nửa nghệ sĩ”. Hồ Thị Xuân Thu đang đi theo hướng đó.

Mài là vẽ. Sự cảm nhận về mầu sắc và hình tượng tranh thuộc về tài năng. Đó chính là bí mật của nghệ thuật mài tranh mà họa sĩ phải mò mẫm khám phá. Kết quả của màu sắc, độ huyền ảo và chiều sâu của bức tranh đã tạo nên sự độc đáo của sơn mài.

Họa sĩ Hồ Thị Xuân Thu đã đạt được sự huyền ảo đó. Nhà lý luận phê bình Mỹ thuật Lê Quốc Bảo đã nhận xét: “Không ít tác phẩm sơn mài của Hồ Thị Xuân Thu đã định hình định vị một phong cách nghệ thuật sơn mài hiện thực tâm trạng thuộc kênh tạo hình của chủ nghĩa hiện đại, nổi trội phẩm chất Tây Nguyên”. Sau hai lần triển lãm tranh sơn mài ở TP Hồ Chí Minh (2004) và Hà Nội (2012), sắc màu Tây Nguyên của Hồ Thị Xuân Thu đến với người xem vượt ngoài sự mong đợi. 

Ấn tượng để lại trong tranh của Hồ Thị Xuân Thu - đó là sự hòa hợp giữa ngôn ngữ hội họa hiện đại với dân gian. Sắc màu Tây Nguyên của chị còn phảng phất hơi thở của nghệ thuật Chăm cổ mà đó là gốc của một nền tảng văn hóa của người dân tộc Gia Lai. Sự ám ảnh từ những đôi mắt của người phụ nữ đã toát lên điều đó. Nó ẩn chứa sức mạnh được dồn nén trong sắc màu Tây Nguyên bao đời nay. Đó chính là thành công của Hồ Thị Xuân Thu trong suốt hơn ba mươi năm lao động nghệ thuật trên miền nắng gió Pleiku.

Cảnh Linh

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.