Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Về thăm đền Chu Hưng, mỗi người dân đất Việt sẽ cảm nhận được hào khí và tiếng đồng vọng của lịch sử ông cha âm vang từ ngàn xưa.

Nơi hội tụ những giá trị lịch sử

Từ xa xưa, trong dân gian ở vùng đất Hạ Hòa vẫn lưu truyền câu ca: "Nhất Chu, nhì Hiền, tam Lang, tứ Lệnh" để ca ngợi sự linh thiêng bậc nhất của ngôi đền Chu Hưng trên vùng đất Hạ Hòa. Được xây dựng vào triều Vua Gia Long năm thứ 5 (1806), đền Chu Hưng là nơi phụng thờ danh tướng thời đại Hùng Vương là Côn Nhạc đại vương cùng các vị đức thượng đẳng thần.

Trải qua thời gian với những biến cố của lịch sử, chiến tranh, thiên tai, nhiều thế hệ người dân vùng Chu Hưng một lòng tri ân công đức của Côn Nhạc đại vương và các vị tiền nhân đã có công với nước, có đức với dân, hương khói phụng thờ, gìn giữ, trùng tu, tôn tạo ngôi  đền ngày càng khang trang. Đền Chu Hưng tọa lạc trên một dải đất sơn thủy hữu tình, hai bên có long chầu hổ phục, phía trước có núi Kim Quy.

%3fnh 2.jpg -0
Lễ hội đền Chu Hưng được tổ chức trang trọng, là không gian gắn kết cộng đồng, làng xã.

Theo cuốn “Chu Hưng ngọc phả thánh tích” hiện còn lưu giữ tại đền thì thấy vị thần được thờ phụng tại đây là Côn Nhạc, em trai của Vua Hùng Vương thứ 18 - Hùng Duệ Vương. Khi lên ngôi, Hùng Duệ Vương cho phân chia lãnh thổ thành từng vùng, từng châu rồi giao cho anh em mỗi người hùng cứ một phương. Côn Nhạc được giao chính tổng chấn địa hạt Chu Hưng.

Theo lệnh Vua Anh, Côn Nhạc đến địa hạt Chu Hưng chiêu dân lập ấp, khai phá điền hoang, sơn trại, nuôi dưỡng súc vật, bồi bổ sức dân, làm cho dân ấp mỗi ngày một hưng thịnh. Đang yên lành, bỗng ở trong nước nhiều nơi trộm cướp nổi lên hoành hành dân thiện, ở ngoài bờ cõi rình rập dọa đe bởi giặc phương Bắc kéo quân sang xâm chiếm Văn Lang.

Côn Nhạc được giao nhiệm vụ chỉ đạo đội quân theo đường bộ áp sát vùng Yên Bái, Lào Cai đón đánh giặc ngay từ biên giới. Khi đã tới nơi, ông bèn hạ lệnh cho các tướng sĩ cắm trại, dựng đồn, dàn quân mai phục. Thắng trận, quét sạch quân xâm lược phương Bắc ra khỏi bờ cõi, Côn Nhạc được gia phong sắc quy: "Quốc tái gia phong, Sắc rồng Côn Nhạc, Tính tông hùng Trấn đại vương, Thượng tướng nhất phương Cảnh Vũ". Côn Nhạc trở về tiếp tục cai quản địa hạt Chu Hưng.

Một thời gian sau ông mất vào ngày mồng 8/2. Hài cốt của ngài được táng ngay trên đỉnh Quy Sơn, một mạch đất đẹp điệp điệp, trùng trùng. Tưởng nhớ công ơn của ông, nhân dân đã lập miếu thờ. Trải qua các triều vua nhà Nguyễn, ngôi  đền nhận được 11 đạo sắc phong: 1 sắc phong thời Vua Minh Mệnh (1821), 2 sắc phong thời Vua Thiệu Trị, 1 sắc phong thời Vua Đồng Khánh, 5 sắc phong thời Vua Tự Đức, 2 sắc phong thời Vua Duy Tân. Trong đó có 4 sắc phong "Hựu thiện phù trực chi thần", 5 sắc phong "Thượng đẳng thần".

Đền Chu Hưng không chỉ có giá trị lịch sử trọng đại thời Hùng Vương mà còn gắn với nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước. Sau khi nhà Trần chiến thắng Nguyên Mông oanh liệt, Vua Trần Nhân Tông đã rời kinh thành lên thăm trại Quy Hóa, nơi diễn ra cuộc giao chiến lớn đầu tiên trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất của quân Đại Việt chống quân Mông Cổ ngày 17 tháng 1 năm Đinh Tỵ (1285). Tại Chu Hưng, nhà vua thăm nơi an nghỉ của Côn Nhạc và khắc tặng bốn câu thơ: "Vung giáo non sông mấy ngàn thu/ Bốn biển được yên thù đã hết/ Núi xanh trùng điệp tựa như tranh/ Linh lăng vạn cổ mãi hiển vinh".

Ngày 29/8/1945, Mặt trận Việt Minh đã lấy sân đền làm trụ sở tổ chức cuộc mít tinh tuyên bố xóa bỏ chính quyền thực dân phong kiến. Ngôi đền này cũng là nơi tuyên bố thành lập các đoàn thể cứu quốc như Nông dân Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc, Thanh niên Cứu quốc... Từ tháng 4/1947 đến tháng 12/1949, xưởng nữ quân nhu chiến khu 10 đã đặt cơ sở tại đền làm nơi sản xuất quần áo chiến sĩ, đóng gói chăn màn, ba lô để gửi ra tiền tuyến.

Ngày 16/4/1949, Đội vũ trang đầu tiên của nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào Lát-xạ-vông do đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản là Chỉ huy trưởng gồm 14 đồng chí làm nhiệm vụ học tập quân sự và học tập về tình hình nhiệm vụ cách mạng Lào tại đền Chu Hưng. Ngày 10/08/1949, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản và đồng chí Lê Trọng Tấn đến thắp hương tại đền Chu Hưng và thăm anh em rồi chụp ảnh chung cùng các đồng chí trong đội vũ trang Lào trước cửa đền.

Để dấu ấn lịch sử còn mãi với năm tháng và thế hệ trẻ khắc sâu thêm niềm tự hào về tình nghĩa giữa hai dân tộc, vào ngày 6/9/2019, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Phú Thọ đã phối hợp với huyện Hạ Hòa (cũ) khởi công xây dựng di tích Nhà bia lịch sử - địa điểm huấn luyện đội vũ trang đầu tiên của nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào. Tấm bia có ghi: ""Ngày 16 tháng 4 năm 1949, Đội vũ trang đầu tiên của Quân đội Nhân dân Lào có tên gọi "Đội Lát- xạ-vông" đã đến địa điểm này để huấn luyện, học tập quân sự - chính trị và quán triệt các tình hình của cách mạng Lào".

Ngày nay, đền Chu Hưng đã được xây dựng khang trang. Ngôi đền được công nhận là di tích lịch sử quốc gia. Lễ hội đền Chu Hưng là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. 16 năm làm Thủ từ đền Chu Hưng, cụ Nguyễn Ngọc Chức là một trong những người đã có những đóng góp quan trọng trong việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trị to lớn của  đền Chu Hưng. Cụ là một minh chứng quan trọng cho sự tiếp nối, trao truyền những tư liệu, phong tục, tín ngưỡng gắn với đền Chu Hưng giai đoạn trước và sau khi phục dựng ngôi đền.

Cụ Chức chia sẻ: "Đền Chu Hưng là ngôi đền linh thiêng bậc nhất trên vùng đất Hạ Hòa. Nơi đây hội tụ những giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật. Các thế hệ cần gìn giữ và phát huy những giá trị ấy trong hiện tại cũng như tương lai".

Vọng tiếng ngàn xưa

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trên vùng Đất Tổ Phú Thọ là một mạch nguồn trường tồn, lan tỏa trong tâm thức và đời sống của nhân dân. Trong mạch nguồn ấy, đền Chu Hưng và lễ hội của ngôi đền là một minh chứng tiêu biểu cho tín ngưỡng mang đậm triết lý nhân sinh và giá trị nhân văn ấy. Trong dòng chảy vô hồi, vô hạn của thời gian, qua các giai đoạn phát triển của đất nước, của quê hương, ngôi đền cổ Chu Hưng có sức sống mãnh liệt, trường tồn trong mạch nguồn văn hóa dân tộc và tiềm thức của nhân dân.

Có được điều đó là nhờ vào sự linh thiêng của ngôi đền được dân gian truyền tụng từ bao đời nay trên vùng quê Hạ Hòa, những giá trị to lớn về mặt lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng của đền Chu Hưng. Và một điều quan trọng làm nên sự trường tồn và lan tỏa di sản văn hóa phi vật thể Lễ hội đền Chu Hưng chính là hình ảnh ngôi đền và những giá trị bền vững có sức sống trong đời sống văn hóa, tinh thần và tâm hồn của nhân dân.

Trải qua biết bao thế hệ nối tiếp nhau trên dải đất Chu Hưng, Hạ Hòa, người dân luôn có ý thức gìn giữ, bảo tồn và phát huy những giá trị cốt lõi của đền Chu Hưng. Cho dù, có thời điểm, do chiến tranh, thiên tai, cuộc sống khó khăn, những tư liệu quan trọng làm nên giá trị của ngôi đền như sắc phong, bia ký, ngọc phả, tượng Côn Nhạc đại vương và đồ thờ tự đã được người dân trong vùng Chu Hưng bảo vệ, lưu giữ còn nguyên giá trị như ban đầu. Chính điều đó, đền Chu Hưng là một trong số ít những ngôi đền cổ trên vùng Đất Tổ Phú Thọ, vùng quê Hạ Hòa còn giữ được nguyên trạng những tư liệu có giá trị về lịch sử, văn hóa trong suốt quá trình hình thành và phát triển. Đây chính là cơ sở để khẳng định vị trí quan trọng của đền Chu Hưng trong Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ, là điểm tựa để tiếp tục phát huy những giá trị của di sản đền và lễ hội trong giai đoạn hiện nay.

Đền Chu Hưng từ bao đời nay là biểu tượng thiêng liêng, là điểm nhấn trong đời sống văn hóa tâm linh của vùng quê Hạ Hòa. Hình ảnh cây đa, sân đình, hội làng đã trở thành hành trang ký ức không phai mờ trong tâm hồn bao thế hệ người dân nơi đây. Dù có đi đến chân trời góc bể, dù có ngược xuôi xa gần, mỗi người con được sinh ra và lớn lên ở vùng quê này luôn nhung nhớ, luôn gửi gắm những tình cảm ấm áp với quê hương.

Những người dân Hà Nội lên Chu Hưng tản cư trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp luôn giữ trong tâm trí mình hình ảnh ngôi đền cổ Chu Hưng, cây đa Chu Hưng tỏa bóng xuống ngôi miếu cổ trầm mặc, hình ảnh vùng quê trung du yên bình, thơ mộng với rừng cọ, đồi chè, đồi chò bạt ngàn, gò Thờ, gò Lem với hoa chuối đỏ tươi, hoa sở nở trắng rừng. Trong tâm thức hướng về nguồn cội, mỗi thế hệ người dân Chu Hưng, Hạ Hòa luôn khắc ghi, tri ân công lao trời biển của Côn Nhạc đại vương và các bậc tiền nhân đã có công với đất nước, có đức với nhân dân, để cuộc sống hôm nay được ấm no, hạnh phúc.

Hơn hai thế kỷ đã qua kể từ khi Vua Gia Long cho xây dựng, đền Chu Hưng là điểm tựa tâm linh của nhân dân Chu Hưng, Hạ Hòa và nhân dân gần xa. Nơi đây, không gian tâm linh mang đến cho con người sự thanh tịnh, xua tan bao ưu phiền. Trong bảng lảng nhang trầm thơm ngát, con người lắng lòng mình trong suy tưởng để cảm nhận được những giá trị của lịch sử, ngọn nguồn của cuộc sống, biết trân trọng những giá trị của hôm nay và biết hướng đến những điều tốt đẹp của tương lai.

Lễ hội đền Chu Hưng là yếu tố văn hóa nổi bật làm nên phong tục, tập quán của vùng quê trung du này. Bước chân vào không gian ngôi đền với lòng thành kính tri ân, ai ai cũng vui tươi, chan hòa, đoàn kết và cầu mong các bậc tiền nhân phù hộ độ trì cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống của nhân dân ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Nguyễn Thế Lượng

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.

Nữ sĩ Phan Thị Thanh Nhàn: Thơ tình thầm lặng tỏa hương

Nữ sĩ Phan Thị Thanh Nhàn: Thơ tình thầm lặng tỏa hương

Trong nền thi ca đương đại Việt, nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn là gương mặt nữ tiêu biểu chiếm được cảm tình đặc biệt của bạn đọc. Thành công nhất ở chị là mảng thơ tình yêu bởi sự đa dạng, tinh tế, đậm một phong cách riêng.