Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Sinh ra trong một gia đình Nho học thất thế nhưng sớm được gần gũi và trực tiếp chứng kiến thế giới quan trường cũng như lớp người dưới đáy trong xã hội thực dân nửa phong kiến, có năng khiếu hài hước, ông viết thành những truyện ngắn thể hiện rõ một quan niệm về cuộc đời là một sân khấu hài kịch và con người bị tha hóa, vật hóa. Xin được giới thiệu hai truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn viết về con ngựa, qua đó, thấy cả một bức tranh xã hội đen tối, "lạ đời", "ngược đời", vô cảm, vô nhân.

"Ngựa người và người ngựa" - Hai kiếp người "vật hóa"

Truyện ngắn thường cần đến tình huống để neo gửi chủ đề, nhân vật, tính cách. Truyện cười càng cần đến tình huống - những tình huống bất thường, mang tính nghịch lý, phi lý, oái oăm, để nói cái hữu lý có thật ngoài đời. Nhà văn phải dẫn dắt tình tiết, đẩy cốt truyện lên tới đỉnh điểm, căng thẳng, kịch tính tạo nên sự hồi hộp, đòi một sự giải quyết ở độc giả. Cuối cùng là bật ra một kết thúc bất ngờ, tạo ra hiệu ứng thẩm mỹ của tiếng cười.

untitled-1.jpg -1
Nhà văn Nguyễn Công Hoan.

Vào đêm cuối năm, sự bần cùng của kiếp nghèo hay sự trớ trêu của số phận, anh phu xe và cô gái điếm ế khách, vô tình gặp nhau. Tình huống truyện vừa phi lý, vừa ngẫu nhiên, dẫn đến hiểu nhầm. Hai nhân vật ngẫu nhiên gặp nhau trong bối cảnh không gian phố phường, thời điểm lẽ ra được sum vầy ấm áp cùng gia đình. Nhưng vì cảnh nghèo kiết, họ phải "ra đường" kiếm sống.

Hai số phận, hai hoàn cảnh vừa tương đồng vừa tương phản làm bật ra cái nghịch lý của hai kẻ cùng quẫn. Khi được chở bà khách sang trọng, anh phu xe càng thêm hy vọng kiếm được nhiều tiền: "Mười lăm phút nữa, mình sẽ có sáu hào. Sáu hào với hai hào là tám. Thế nào ta cũng nài thêm bà ấy mở hàng cho một hào nữa là chín. Chín hào! Mở hàng ngay vào lúc năm mới vừa đến. Thật là may! Mới năm mới đã phát tài! Thôi sang năm tất sẽ làm ăn bằng mười bằng trăm năm nay".

Nhưng hy vọng bao nhiêu, lại thất vọng bấy nhiêu. Vì bà khách "sang trọng" ngồi trên xe chỉ là cô gái điếm "ăn sương" ế khách. Cuối truyện là đoạn hội thoại được tổ chức theo lối "đánh tráo nghĩa" gây cười, chua chát: "- Thôi thì anh kéo tôi ra chỗ kín, vắng, anh muốn bắt tôi gì, tôi xin chịu. - Tôi bắt gì cô mà tôi bắt! Cô ả nắm lấy tay, vỗ vào vai anh xe, nhăn nhở cười: - Anh này thực thà quá, nghĩa là chỉ có anh với tôi, thì người tôi đây, anh muốn làm gì, tôi cũng bằng lòng".

Từ "bắt" của cô gái điếm được anh xe hiểu (hoặc cố tình hiểu) là động từ "bắt bớ", "bắt giữ". Cô gái điếm đành phải nói "gần" hơn. Nghĩa là: "anh muốn làm gì, tôi cũng bằng lòng". Đến "nước" này thì anh xe phải hiểu, để rồi rơi vào một nghịch cảnh khác: "Bất đắc dĩ, con ngựa người lại phải kéo con người ngựa".

Tên truyện "Người ngựa và ngựa người" là chìa khóa để mở ra ý nghĩa nhân đạo của truyện. Trong xã hội ấy anh phu xe phải chịu cảnh "người ngựa", dù trong đêm ba mươi vẫn cố đi kiếm miếng ăn. Cô gái điếm phải chấp nhận cảnh "ngựa người", biến thân thể mình thành công cụ tồn tại. Sự đảo ngược hai khái niệm bật ra ý mỉa mai đau xót: con người tự phải "vật hóa" để trở thành những "phương tiện tồn tại".

Không hề chế giễu nhân vật, trái lại, nhà văn nhìn họ bằng con mắt cảm thông. Anh phu xe hiền lành, chăm chỉ, chỉ mong làm lụng để nuôi gia đình: "Rồi anh nghĩ đến vợ con anh, mà phấn chấn trong lòng, như có cái sức gì nó xúi giục anh quên khổ để vui lòng làm việc vậy". Người đàn bà bán thân cũng chỉ là nạn nhân của hoàn cảnh. Hai nhân vật đều đáng thương.

Thể hiện rõ phong cách đặc trưng tiếng cười Nguyễn Công Hoan, tình huống truyện tự nhiên, bất ngờ. Lối đối thoại sinh động, gần gũi với khẩu ngữ đời thường, tạo nên không khí chân thực. Giọng điệu trào phúng chua chát làm người đọc cười, sau tiếng cười là những suy ngẫm day dứt về số phận những kẻ "dưới đáy". Tiếng cười ra nước mắt!

"Con ngựa già" và những hành động của "loài quỷ"

Truyện "Con ngựa già" thuộc loại truyện không có truyện, đúng hơn, không có cốt truyện, không có nhân vật cụ thể. Chỉ là lời kể tái hiện đám người chôn sống một "con ngựa già" nhưng đầy ám ảnh. Được kể theo hồi ức nhân vật "tôi" - một cậu bé sống gần huyện đường ở Yên Mỹ, có mở đầu câu chuyện là hình ảnh con ngựa ô nổi tiếng của quan huyện - một con ngựa khỏe mạnh, hung hăng, rất có công.

Trong ký ức lũ trẻ, con ngựa ấy như là một "huyền thoại": chạy nhanh như gió, từng thi sức với xe lửa, từng cứu quan huyện thoát khỏi bọn cướp. Qua giọng điệu khâm phục, tự hào của người kể, con vật hiện lên sinh động, đáng yêu, đáng trọng. Tưởng rằng người ta sẽ đối xử với nó như một ân nhân. Nhưng không. Vì nó quá già. Theo lệnh trên, đám lính kéo con ngựa đi chôn. Và một cảnh phi nhân tính rùng rợn diễn ra…

image003.jpg -0
Một cảnh trong vở kịch "Ngựa người và người ngựa" (2005).

Con ngựa già bị chôn sống. Con ngựa tội nghiệp bị chôn không vừa huyệt: "Tức thì, người ta lấy dây chão buộc chặt đầu con vật và lôi gò trở lại. Cổ nó như bị gập đôi. Và người ta cố nhét cho cả con vật vừa huyệt. Con ngựa đau thở hừ hừ. Lưỡi thè ra cả ngoài miệng". Chưa thể hiện hết tính dã man. Người ta bèn chặt cụt bốn cẳng chân nó. Con vật "tưởng có thể chạy trốn sự đau đớn, nên nó dùng hết sức tàn chạy bằng bốn cẳng cụt. Nó băm nhanh như thể thời nó phi nước đại". Khi nó kiệt sức, người ta bèn bổ lưỡi dao vào mặt nó, "nhắc" nó chạy tiếp, để "tiếng cười lại nổi lên rầm rĩ".

Còn "tôi": "Tôi cười. Nhảy lên mà cười, vỗ tay mà cười. Vui quá!". Nhân vật "tôi" mang chức năng tăng cường tính thời sự (vì thời điểm kể và thời điểm câu chuyện xảy ra không quá xa); mang đậm cảm xúc cá nhân; nhất là rất thật (do tôi trực tiếp chứng kiến và kể lại), càng làm rõ thêm cái cười ấy của "đám lính" và của "tôi", không còn là tiếng cười của người, mà là tiếng cười của "quỷ". Theo quan niệm xưa, loài "quỷ" rất ác (Ác như quỷ), vô hồn, vô cảm, phi nhân tính.

Một tình huống truyện mang tính "lạ đời": đem con ngựa từng là ân nhân đi chôn sống. Không có lời bình luận trực tiếp của tác giả, sự việc tự phơi bày ý nghĩa. Cấu trúc đối lập - quá khứ "vàng son" và hiện tại - cái chết thảm khốc của con ngựa, càng tạo nên sự day dứt. Lối dẫn chuyện qua hồi ức của một người trẻ tuổi, làm tăng thêm tính chân thực "vô tư", do vậy, đầy ám ảnh.

Luật tục chôn sống (người và vật) từng xuất hiện trong một số tộc người cổ xưa, phản ánh trình độ nhận thức và tổ chức xã hội còn ở mức sơ khai. Thời đó pháp luật thành văn chưa hình thành, cộng đồng thường dùng những hình phạt cực đoan để răn đe và bảo vệ trật tự. Hành vi chôn sống được xem như cách trừng trị nghiêm khắc đối với tội bị coi là đặc biệt nguy hiểm hoặc ô nhục.

Từ góc nhìn nhân đạo và pháp lý hiện đại, đó là hành vi mang tính tội ác, vi phạm nghiêm trọng quyền sống của con người và loài vật. Điều ấy cho thấy tính dã man của xã hội thời tiền pháp quyền. Nhìn từ góc độ văn hóa truyền thống, truyện toát lên mấy ý: Một là tội vô ơn. Theo tín ngưỡng, dù là con vật, nhưng nó nghĩa tình, có công với người. Khi chết, người (chủ) sẽ chôn cất nó tử tế. Nhưng ở đây, thì ngược lại, là "chôn sống". Hai là tội vô đạo, vô nhân.

Ảnh hưởng quan niệm "luân hồi" Phật giáo, khi giết một con vật gì, tức là làm "sứ mệnh" tái sinh, do vậy phải nói câu: "Hóa kiếp mày/này làm kiếp khác!". Nhưng ở đây, đúng là "lũ quỷ", nên tất cả đều trống rỗng, cơ giới, không tính người.

Câu chuyện bật ra ý nghĩa phổ quát: Phải thay đổi triệt để môi trường phi nhân tính để con người có nhân tính.

Không chỉ là câu chuyện về một con vật, rộng hơn, đó là một bức tranh xã hội đầy chua chát. Qua số phận con ngựa đáng thương, nhà văn phê phán, lên án sự vô ơn, tàn nhẫn. Ý nghĩa nhân bản sâu sắc, thấm thía của truyện gióng lên tiếng chuông: Đạo đức và lòng nhân ái của con người ở đâu? Truyện gần gũi với triết lý sống đáng xa lánh, khinh ghét: "Vắt chanh bỏ vỏ". Trong xã hội hôm nay, có còn nhiều loại người ấy không?

Cả hai truyện chịu ảnh hưởng nguyên lý kịch cổ điển Boalô (Nicolas Boileau), tức "luật tam duy nhất": duy nhất thời gian, duy nhất địa điểm, duy nhất hành động. Truyện xảy ra không quá 24 tiếng đồng hồ, ở địa điểm ấy, nhân vật chỉ một hành động ấy. 

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.

Nữ sĩ Phan Thị Thanh Nhàn: Thơ tình thầm lặng tỏa hương

Nữ sĩ Phan Thị Thanh Nhàn: Thơ tình thầm lặng tỏa hương

Trong nền thi ca đương đại Việt, nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn là gương mặt nữ tiêu biểu chiếm được cảm tình đặc biệt của bạn đọc. Thành công nhất ở chị là mảng thơ tình yêu bởi sự đa dạng, tinh tế, đậm một phong cách riêng.