Hà Nội nhìn từ những chiều kích thời gian

Uông Triều là nhà văn tạo ra dấu ấn trên văn đàn Việt Nam trong khoảng gần mười năm qua. Ngòi bút của anh xông xáo, mạnh mẽ thể nghiệm mình trên nhiều thể loại, nhiều trường phái và hệ hình nghệ thuật khác nhau.

Đáng kể nhất, như nhận định của tôi, là tiểu thuyết đầu tay “Tưởng tượng và dấu vết” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn và Nhã Nam, năm 2014). Tuy không phải tác phẩm nào cũng thành công và có chất lượng nghệ thuật tương đương tiểu thuyết đầu tay, song điểm đáng ghi nhận ở Uông Triều là anh tích cực đọc, tìm tòi và thể nghiệm trong lối viết.

Nhà văn Uông Triều.
Nhà văn Uông Triều.

Trong vòng hai năm, từ 2018 đến 2020, hành trang sáng tạo của Uông Triều có những động hướng mới đáng chú ý. Ngoài việc vẫn sáng tạo trên địa hạt của văn xuôi hư cấu (truyện ngắn và tiểu thuyết), anh dần bước một chân văn xuôi phi hư cấu và lí luận phê bình “Thế giới của sáng tạo” - Nhà xuất bản Hội Nhà văn và Tao Đàn ấn hành năm 2020. Trên địa hạt của văn xuôi phi hư cấu, hai tác phẩm gần đây của Uông Triều đã tạo ra được nhiều hiệu ứng văn hóa đọc rộng rãi, đó là “Hà Nội - dấu xưa, phố cũ”- Nhà xuất bản Văn học và Sống ấn hành năm 2020 và “Hà Nội - quán xá phố phường” - Nhà xuất bản Văn học và Sống ấn hành năm 2018.

Dễ thấy một điểm chung của cả hai tác phẩm, đó là cùng viết về một địa danh thống nhất, lấy tiêu điểm ở Hà Nội - Thủ đô ngàn năm văn hiến của dân tộc. Tuy nhiên, điểm nan giải mà Uông Triều đặt ra cho chúng ta, những bạn đọc chuyên môn, đó là thể loại thực sự của hai tác phẩm này. 

Có thể xếp rốt ráo chúng vào tùy bút, bút ký, hồi ký, tản văn… hay không? Bất cứ sự lựa chọn khuôn khổ thể loại nào cũng tiềm chứa nhiều nguy cơ. Bởi vì, cả hai tác phẩm của Uông Triều về Hà Nội được viết dưới tư duy nguyên hợp của hậu hiện đại. Tức là, cả hai tác phẩm là sự kết nối liên văn bản của nhiều tiểu luận (48 tiểu luận trong “Hà Nội - dấu xưa, phố cũ” và 41 tiểu luận trong “Hà Nội - quán xá phố phường”). Dưới hình hài của những tiểu tự sự tưởng chừng rất tùy tiện, ngẫu hứng trong lối viết, đề tài, chủ đề… là một mạng lưới liên văn bản (intertext) nối kết chặt chẽ, ổn định và đầy dụng ý.

Nhìn chung, cả hai tác phẩm là sự tập hợp những tiểu luận được viết theo lối tiểu tự sự (petit narrative), nhằm thể hiện góc nhìn và cảm quan của cá nhân Uông Triều về Hà Nội. Lối viết có tính nguyên hợp này mang lại cho cá nhân nhà văn một lợi điểm, đó là sự tự do trong suy nghĩ và cách biểu đạt. 

Anh gần như không bị gò bó vào trong bất cứ cái khuôn mẫu nào của thể loại. Nhà văn thản nhiên nghĩ gì, biết gì, đam mê vấn đề nào, tư liệu lịch sử có đến đâu, trải nghiệm cá nhân đến mức nào thì viết ra như thế ấy. Tiểu luận này có tính tản văn thì ngay lập tức tiểu luận sau đó có tính tự truyện, tiểu luận sau nữa là bút ký, chẳng sao cả, miễn là viết về Hà Nội.

Lối viết này, từ góc độ người đọc tạo ra nhiều thuận lợi. Thứ nhất, bạn đọc phổ thông sẽ rất dễ dàng đón nhận bởi khoảng cách thẩm mỹ không lớn, tầm đón đợi không đòi hỏi phải uyên bác hay chuyên nghiệp trong khi đọc. Thứ hai, loại sách này rất phù hợp với những khách du lịch, vốn ít thời gian và thường xuyên di chuyển. Họ cần những thông tin ngắn gọn, súc tích, chuyển tải đầy đủ tri thức lịch sử, văn hóa, trong một hình thức phổ thông, đơn giản, không đánh đố người đọc. 

Điều loại bạn đọc này cần và chờ mong khi thông diễn loại sách này, đó là sự độc đáo trong những câu chuyện bên lề, huyền thoại, các sự kiện lịch sử độc đáo, quan trọng, gắn với các địa danh của Hà Nội. Điều này sẽ nhằm gợi ra sự hứng khởi, tò mò khám phá từ phía người đọc. 

Rõ ràng lối viết có dung lượng càng ngắn gọn, tri thức càng phổ thông, câu chuyện được kể càng độc đáo, thì cơ hội bạn đọc tìm mua sẽ càng nhiều hơn. Hai quyển sách về Hà Nội của Uông Triều được tính toán kĩ cho loại bạn đọc đặc thù ấy. Chiến lược viết lúc này, không bị quy định bởi trình độ và kiến văn của tác giả, mà chủ yếu phụ thuộc vào hoàn cảnh đọc và đặc trưng của đối tượng tiếp nhận văn học.

Hai tác phẩm viết về Hà Nội của nhà văn Uông Triều.
Hai tác phẩm viết về Hà Nội của nhà văn Uông Triều.

Hà Nội trong tâm thức Uông Triều không phải là quê hương, khác với hàng loạt nhà văn, nhà văn hóa khi viết về nơi đây. Những nhà văn người Hà Nội nhìn Thủ đô từ bên trong, từ nơi chôn rau cắt rốn, như những gì thân thuộc nhất. Uông Triều nhìn Hà Nội từ bên ngoài. Anh có đủ tỉnh táo, lý tính để nhận ra những oái oăm, trái khoáy, những cái cần phê phán của Hà Nội. Trong hai công trình, chúng ta vẫn thấy nhà văn thẳng thắn phê phán về những nhược điểm này. 

Ví dụ như thói quen phục vụ khách ăn lề mề, quan liêu; những con phố, đường sá ngoằn nghèo nhỏ bé như ma trận; giao thông ùn tắc; hay quá trình đô thị hóa thiếu quy hoạch dẫn đến nhiều khu nhà bé nhỏ, chật chội như mê cung; quá trình dồn tụ tập trung dân cư quá cao, dẫn đến chiếm lĩnh các không gian văn hóa tâm linh, đẩy đền thờ miếu mạo lên tầng hai... Nếu là người Hà Nội gốc, hay chí ít là người được sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, sự bất thường, trái khoáy trên sẽ trở nên bình thường “như cân đường hộp sữa”.

Hà Nội trong tạp văn của Uông Triều là Hà Nội của riêng anh, từ góc nhìn và trải nghiệm cá nhân của một chàng trai tỉnh lẻ, sống, chia ly rồi lại đoàn tụ với Hà Nội trong suốt cả cuộc đời. Anh luôn quan tâm đến những kẻ bên lề xã hội giống mình, cũng như sẵn sàng nhìn trực diện vào những giới hạn, những thói hư tật xấu của người Thủ đô ngàn năm văn vật. Tình yêu của Uông Triều với Hà Nội là điều dễ dàng nhận ra, song đó dứt khoát không phải là một tình yêu mù quáng, vô điều kiện.

Tạp văn của Uông Triều viết về Hà Nội đạt đến độ hòa quyện nhuần nhuyễn giữa tính chủ quan và khách quan trong lối viết. Về tính khách quan, chúng ta dễ dàng nhận ra những nguồn tư liệu, sử liệu ngồn ngộn ở bất kì tiểu luận nào, dẫu là về lai lịch địa danh, về những sự kiện - nhân vật lịch sử gắn với địa danh đó, hay là tiểu sử của người được đặt tên cho địa danh. 

Riêng về tính chủ quan, đặc trưng tạo nên sức nặng của phong cách tạp văn Uông Triều, có mấy điểm cơ bản cần chỉ ra như sau. Thứ nhất, Uông Triều sử dụng nhiều cảm xúc, kí ức, kỉ niệm cá nhân khi viết về Hà Nội. Hà Nội như vậy, không còn là một khách thể tự thân, mà nó được cấp nghĩa thông qua chủ thể trữ tình. Một Hà Nội của người ta, trở thành Hà Nội “của mình”, cho dù nhà văn không sinh ra và lớn lên ở Hà Nội.

Suy cho cùng, điều bạn đọc cần không phải là một cẩm nang du lịch Hà Nội, hay là một quyển sử tư liệu về Hà Nội khi tìm mua và đọc hai tác phẩm của Uông Triều. Họ cần một Hà Nội khác, mới, riêng tư của nhà văn gốc Quảng Ninh. Họ cần xem anh cảm nhận Hà Nội từ góc độ riêng của mình như thế nào, điểm nào có thể sẻ chia, điểm nào có thể phủ định hay phản biện. Đó cũng là sứ mệnh của nhà văn nói riêng lẫn văn chương nói chung. 

Văn chương không phải là bản sao chính xác của hiện thực, bản thân nó là một hiện thực được ảnh xạ qua góc nhìn cá nhân của nhà văn. Người ta tìm đến văn chương là để trải nghiệm cái riêng, cái hư cấu, cái suy tư, triết lý của người viết, không phải để tìm thông tin hay tìm sự thật, hiện thực. Một hiện thực hay sự thật tuyệt đối chính xác là không bao giờ tồn tại trong văn chương, cho dù văn chương luôn được khởi sinh mang mang bản chất của hiện thực.

Điểm tôi chú ý đến cách Uông Triều tiếp cận ẩm thực Hà Nội, đó là anh không quá cao siêu, vận dụng triết lý âm dương ngũ hành gì phức tạp, mà chỉ kể về trải nghiệm cá nhân đối với những món ăn rất bình dân, quen thuộc, thậm chí là rất khó viết nên thơ. Nhiều món ăn mang hồn cốt Hà Nội được Uông Triều miêu tả sự thưởng thức đạt đến độ vi tế, đầy tính chất nghệ thuật trong thưởng lãm.

Tóm lại, chỉ trong một dung lượng cực hạn, Uông Triều đã dẫn dắt chúng ta lang thang trong chiều kích của thời gian lịch sử, lẫn trong chiều kích của không gian văn hóa Hà Nội. Điều hay ở anh là sự gợi cảm hứng, thúc giục chúng ta tự khám phá một Hà Nội cho riêng mình. Hẳn thế, nên những tiểu luận thường bỏ ngỏ, với nhiều khoảng trắng trong bình luận và cả trong kết thúc, đó là khi tác giả đã chết, và sự đồng sáng tạo của người đọc bắt đầu khởi đi.

Trường An, 1h30 ngày 6-9-2020

Yến Thanh

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.