Giáo sư Trương Tửu với phê bình văn học "khoa học và khách quan"

Với một lực đọc mạnh, một bản lĩnh và cá tính mạnh, một sự nhạy cảm lý luận không dễ kiếm, Giáo sư Trương Tửu đã đến với nghiệp phê bình văn học và để lại dấu ấn đậm của mình. Viết "Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ", "Kinh Thi Việt Nam", "Nguyễn Du và Truyện Kiều", "Văn chương Truyện Kiều", "Văn nghệ bình dân Việt Nam" v.v... ông đã khiến không chỉ một người cho đó là những thành tựu nghiên cứu phê bình văn học theo quan điểm marxisme đầu tiên ở Việt Nam.

Trước năm 1945, thi sĩ Nguyễn Vỹ và phê bình gia Trương Tửu (1913 - 1999) là hai người bạn đặc biệt thân thiết trong làng văn làng báo Việt Nam. Nhớ về bạn văn Trương Tửu, Nguyễn Vỹ có những nhận định rất thú vị: "Trương Tửu có khướu ngôn ngữ và lý luận... Anh là một nhà toán học chống giáo lý, đi tìm một bài toán cho nhân sinh với những công thức do anh tự chế biến ra, không theo công thức điển hình nào cả. Và không bao giờ anh đúng, ít khi anh nói phải, nhưng luôn luôn anh có lý... Với anh, sai lầm chống chân lý, và luôn luôn sai lầm thắng chân lý".

Đọc lại các công trình phê bình văn học của Trương Tửu, đặt chúng trong bối cảnh của nền phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, mới thấy: hóa ra cái nhận định tưởng như... "tréo cẳng ngỗng" ấy của Nguyễn Vỹ là có cơ sở. Từ xuất phát điểm "tri kỷ tương giao", ông đã "bóc" ra được phần nào cá tính độc đáo và bản lĩnh cứng cỏi của nhà phê bình văn học Trương Tửu.

image001.jpg -0
Giáo sư Trương Tửu.

Năm 1942, với bút danh Nguyễn Bách Khoa, Trương Tửu đã cho công bố liền hai cuốn sách: "Nguyễn Du và Truyện Kiều" và "Văn chương Truyện Kiều". (Mười lăm năm sau ông còn trở lại với kiệt tác văn học này bằng công trình "Truyện Kiều và thời đại của Nguyễn Du"). Ngay lập tức, hai cuốn sách ấy làm văn đàn Việt Nam nổi sóng.

Bởi, suốt hơn một trăm năm kể từ khi "Đoạn trường tân thanh" xuất hiện, người Việt Nam ai nấy đều say mê thưởng thức "Truyện Kiều", kính phục văn tài Nguyễn Du và cảm thương trước cuộc đời ba chìm bảy nổi của kiều nữ họ Vương. Thậm chí có người còn đề cao "Truyện Kiều" đến mức coi đó là "thánh thư", là "kinh phúc âm" của người Việt. Vậy mà với Trương Tửu, thì bản thân cuốn thánh thư ấy chỉ là sự phản chiếu đầy đủ về "một xã hội ốm, một đẳng cấp ốm, một cá tính ốm". Vẻ đẹp hình thức của cuốn thánh thư ấy - điều tưởng như dẫu sao cũng không thể phủ nhận được - theo Trương Tửu, "nó chứa chan một chất tàn héo, tiêu ma".

Tôi dám chắc rằng, sống trong bầu khí quyển văn hóa Việt Nam, dù ở bất cứ thời nào, phải là người "gan cùng mình" mới có thể tung ra giữa công chúng những luận điểm "trái tai" như trên. Và quả thật, Trương Tửu đã bị những cây bút cùng thời như Hoài Thanh, Ngô Tất Tố, Đinh Gia Trinh, Lê Huy Vân v.v... phản đối dữ dội. Những luận điểm về Nguyễn Du và "Truyện Kiều" - như đã nêu trên - là kết quả tất yếu của cái cách mà ông áp dụng phương pháp phê bình văn học được chính ông gọi là "phê bình khoa học" khi phê bình "Truyện Kiều".

Nói ngắn gọn, "phê bình khoa học" của Trương Tửu đòi hỏi thái độ khách quan trong khi phân tích, đánh giá các sự kiện, hiện tượng. Thứ nữa, nó yêu cầu khả năng vận dụng lý thuyết và kết quả nghiên cứu của các bộ môn khoa học liên ngành như xã hội học, tâm lý học, di truyền học v.v... vào phê bình văn chương.

Trên thực tế, quả đúng là Trương Tửu đã kết hợp nhiều lý thuyết để mổ xẻ "Truyện Kiều": thuyết đấu tranh giai cấp và văn học phản ánh xã hội của Karl Marx, Engels, Plekhanov, Lapargue; thuyết tâm phân học của Sigmun Freud, Ernest Dupre, Maurice de Fleury; thuyết chủng tộc - địa lý của Hippolite Taine... Chỉ có điều, ông áp dụng chúng theo cách riêng của ông, nghĩa là khá máy móc và cực đoan.

Dù sao, sự máy móc và cực đoan của Trương Tửu cần phải được nhìn nhận như những lúng túng không thể tránh khỏi khi lần đầu tiên vận hành một phương pháp phê bình văn học mới, một phương pháp phê bình khác hẳn lối thẩm bình văn chương nghiêng về chủ quan, trực giác đã có từ trước đó, mà Hoài Thanh là một đại diện tiêu biểu. Thậm chí có thể khẳng định, "phê bình khoa học" của Trương Tửu là một bước tiến về tư duy của nền phê bình văn học Việt Nam ở thời điểm đó.

Với Trương Tửu, phê bình văn học không chỉ là một nghệ thuật, mà nó đã trở thành một khoa học: văn chương không còn là một cái gì đó thần bí không thể hiểu được, nhà phê bình hoàn toàn có thể và cần phải "làm việc" được với tác phẩm văn chương - giống như nhà sinh vật học làm việc được với những mẫu cỏ cây của mình. Và ông chính là một trong những nhân vật lĩnh ấn tiên phong trên con đường đưa phê bình văn học Việt Nam trở thành một khoa học văn chương.

Không phải chờ tới khi phê bình "Truyện Kiều" thì Trương Tửu mới bộc lộ cái bản lĩnh dám trung thực với quan điểm của mình, dám chấp nhận va chạm với những quan điểm trái chiều, thậm chí dám chấp nhận bị mất lòng.

Năm 1935, trên Báo Loa, ông viết một loạt bài phê bình văn chương đương đại. Khi viết về cuốn "Nửa chừng xuân" của Khái Hưng, ông hạ bút: "Đọc hết "Nửa chừng xuân", tôi tin rằng ông Khái Hưng không thể là một nhà tiểu thuyết tả thực, hiểu theo nghĩa xác đáng của nó. Ông có tài nhưng không có khiếu. Bởi vậy nên khi tôi thấy ông vác bút vào cái rừng phong tục hay cái hang lịch sử Việt Nam, tôi e ông chỉ ra không, hoặc giả đem theo được vài... cục đất". Tranh luận với Thạch Lam, ông nói không kiêng nể: "Từ nay tôi không bằng lòng nói chuyện với ông Thạch Lam vì ông không phải là một nhà văn, không phải là một nhà hài hước. Ông Thạch Lam chỉ là một anh chàng nói lỡm".

Về sau này, khi viết "Nguyễn Du và Truyện Kiều", như lường trước được sự phản đối của những người chủ trương thẩm bình văn chương bằng chủ quan, trực giác, ông "đánh phủ đầu" bằng một khẳng định ở phần "Khái luận" của cuốn sách: "Nghiên cứu một văn phẩm mà không tìm đến cá tính nhà văn và hình ảnh của xã hội đương thời với nhà văn phản chiếu trong văn phẩm ấy, tức là không hiểu gì về nghệ thuật phê bình hết".

Năm 1948, trong bối cảnh mà nền văn nghệ kháng chiến đang đẩy tiêu chí "đại chúng hóa văn nghệ" lên hàng đầu, trên Tạp chí Sáng tạo của Đoàn văn nghệ kháng chiến liên khu IV, ông vẫn riết róng tách bạch: "Chúng ta đã có nhiều bài văn vần kháng chiến. Chúng ta đã có nhiều bài ca kháng chiến. Chưa có những bài thơ kháng chiến" (Thơ Việt sẽ đi tới đâu?).

Năm 1957, trong xu thế mà gần như toàn bộ học giới không thừa nhận các tác phẩm văn học viết bằng chữ Hán (của người Việt Nam) là những tác phẩm văn học thuần tính dân tộc, thì ông khẳng định: "Văn học Hán Việt của các thế kỷ quá khứ là một bộ phận của văn học sử dân tộc, một bộ phận khăng khít của truyền thống văn học dân tộc" (Mấy vấn đề văn học sử Việt Nam).

Viết về Trương Tửu, các nhà nghiên cứu lớp con cháu có lúc đã không giấu nổi ngạc nhiên thích thú vì sự "đi bước trước" của ông trong phê bình văn học. Xin được dẫn ra ở đây. Trịnh Bá Đĩnh: "Đọc chẳng hạn những dòng dưới đây thú thật chúng tôi rất ngạc nhiên về thời điểm ra đời của nó trong lịch sử phê bình văn học của ta: Nhưng tiếng nói vừa là một âm thanh mà lại vừa là một kí hiệu (signe), một tượng trưng (symbol) để các người trong xã hội dùng đến khi muốn hiểu nhau. Nó chứa đựng một ý nghĩa mà xã hội đã định cho nó... Một tác phẩm được một xã hội cho là đẹp, vì tác phẩm ấy biểu thị được cái hình thức tình cảm và tư tưởng cần thiết cho sự tồn tại và luân lý đang có... Không nghi ngờ gì rằng các mảnh vỡ của lý thuyết cấu trúc, ký hiệu học và tiếp nhận nghệ thuật đã bay lạc đến lãnh thổ của chúng ta và để lại dấu vết từ khi đó" (Nguyễn Bách Khoa - ''Khoa học văn chương'').

Trương Tửu xuất thân trong một gia đình dân nghèo đông con ở Hà Nội. Thời tuổi trẻ, ông đã hai lần hô hào bãi khóa, làm reo, hai lần bị nhà trường thực dân đuổi học. Sớm phải vào đời kiếm sống bằng nghề dạy học tư, viết văn, viết báo, ông hoàn thiện tri thức cho mình chủ yếu qua con đường tự học bút danh Nguyễn Bách Khoa mà ông chọn cho mình có lẽ đã nói lên phần nào cái tham vọng chiếm lĩnh những chân trời hiểu biết của ông).

Với một lực đọc mạnh, một bản lĩnh và cá tính mạnh, một sự nhạy cảm lý luận không dễ kiếm, ông đã đến với nghiệp phê bình văn học và để lại dấu ấn đậm của mình. Viết "Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ", "Kinh Thi Việt Nam", "Nguyễn Du và Truyện Kiều", "Văn chương Truyện Kiều", "Văn nghệ bình dân Việt Nam" v.v... ông đã khiến không chỉ một người cho đó là những thành tựu nghiên cứu phê bình văn học theo quan điểm marxisme đầu tiên ở Việt Nam.

Sau năm 1954, đi "chuyến xe bão táp" của thời cuộc, ông bỏ nghiệp phê bình văn học, một lần và mãi mãi. Trương Tửu là vậy, luôn rành mạch với chính mình, rành mạch tới mức cực đoan, trên con đường xây dựng một phê bình văn học "khoa học và khách quan".

Hoài Nam

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.