Ghi bên lề mấy trang thơ

Những năm 80 của thế kỷ trước, tôi đang biên tập phần lý luận - phê bình ở tạp chí Văn nghệ Quân đội. Không nhớ rõ là vào hôm nào, thật bất ngờ, tôi nhận được bản chép tay một bài thơ. Bài thơ rất quen thuộc, và được nhiều người thích thú đã từ lâu: "Màu tím hoa sim". Người chép bài thơ, không ai khác, chính là tác giả của nó: nhà thơ Hữu Loan (1916-2010).

1.Thông thường, Ban Thơ của tạp chí tiếp nhận và xử lý bài thơ này. Rất có thể, Ban Hành chính chuyển lầm, nên nó mới đến tay tôi.

Hãy nói về "Màu tím hoa sim" quen thuộc trước. Theo tôi biết, nhà thơ Hữu Loan viết xong "Màu tím hoa sim", chỉ đưa cho mấy người bạn lính đọc. Có người đem đăng lên báo tường. Rồi không biết qua ai, bài thơ truyền vào thành Hà Nội (giặc Pháp đang chiếm), được đăng báo và phổ nhạc. Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, hòa bình lập lại, năm 1956, "Màu tím hoa sim" mới đến được với nhiều người, do nhà thơ Nguyễn Bính đăng trên báo Trăm hoa.

Nhà thơ Hữu Loan (1916-2010).
Nhà thơ Hữu Loan (1916-2010). 

Một bà mẹ đọc bài thơ, thương cảm đến ngỏ ý muốn gả con gái cho tác giả. Về sau, "Màu tím hoa sim" tiếp tục được in nhiều hơn. Năm 2004, Công ty cổ phần công nghệ Vitel đã mua bản quyền "Màu tím hoa sim" của nhà thơ Hữu Loan với giá 100 triệu đồng (một trăm triệu đồng ngày ấy giá trị hơn bây giờ nhiều).

Trở lại bản chép tay bài "Màu tím hoa sim". Đọc nó xong, tôi phát hiện ý đồ của nhà thơ Hữu Loan: muốn sửa lại và thêm một đoạn, gửi đăng trên Văn nghệ quân đội. Để dễ so sánh những chỗ nhà thơ Hữu Loan sửa và thêm, hãy đọc những câu cuối cùng ở bản đã quen thuộc với nhiều người:

Chiều hành quân
Qua những đồi sim
những đồi sim dài trong chiều
không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt

Nhìn áo rách vai
 Tôi hát
Trong màu hoa
"Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...".

(Xin lưu ý là những bản in "Màu tím hoa sim" có nhiều chỗ khác nhau về lời thơ, về cách sắp xếp các dòng thơ...). Ở bản chép tay của ông, sau câu "tím chiều hoang biền biệt", nhà thơ Hữu Loan sửa lại và thêm cho đến hết bài, đoạn dưới đây:

Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết!
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...
Màu tím hoa sim
Tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu...

Theo tôi, có hai lý do để không nên đăng "Màu tím hoa sim" đã sửa và thêm đoạn trên đây của nhà thơ Hữu Loan:

Thứ nhất. Bài trước kia, đã in sâu trong trí nhớ người đọc từ nhiều năm nay. Mà ấn tượng ban đầu đối với bài thơ hay như nó rất sâu đậm, rất khó phai.

Thứ hai. Đoạn mới thêm chỉ chủ yếu nhằm dẫn lại hai câu ca dao mà nhà thơ đã mượn và thay mấy chữ "vợ anh chưa có" bằng "vợ anh mất sớm", nhìn chung không có gì hay, chỉ có tác dụng làm loãng "Màu tím hoa sim" đã quen thuộc.

Tôi đem nhận xét của mình trao đổi với các bạn văn ở tạp chí Văn nghệ quân đội. Mọi người nhất trí hoàn toàn. Chẳng ai băn khoan, tiếc nuối gì những câu thơ được nhà thơ Hữu Loan sửa và thêm. Và tất nhiên, bài thơ đã không đưa in.

Tiếc là nhà thơ Hữu Loan không ghi địa chỉ của ông, tôi không có cách nào trả lời được. Không biết, sau đó, nhà thơ có gửi cho báo nào không, hay có gửi mà họ cũng không in, như tạp chí Văn nghệ Quân đội?

2.Nhà văn, nhà nghiên cứu và phê bình văn học Trần Thanh Mại (1908 - 1965) - trước đây có tài liệu ghi năm sinh của Trần Thanh Mại là năm 1911 - có một con đường văn chương khá đặc biệt. Những năm mới bước vào nghiên cứu, phê bình, ông đã từng được cụ Huỳnh Thúc Kháng khen ngợi và khích lệ trên báo Tiếng dân (số ra ngày 13- 4- 1939) và tạp chí Tao đàn (số ra ngày 16-5-1939). Được lời khen của một chí sĩ nổi danh như cụ Huỳnh bấy giờ là vinh dự lắm.

Vì vậy, Trần Thanh Mại đã được nhiều người biết tiếng từ khá sớm. Nhưng còn đặc biệt hơn nữa, Trần Thanh Mại để lại một "ấn tượng văn chương" rất đậm, như người bạn học thuở ấu thơ và sau đó trở thành nhà thơ, nhà Hán học Nam Trân (1907-1967) đã viết trên báo Văn nghệ số ra ngày 5-3-1965, sau khi Trần Thanh Mại qua đời: "Tôi có thể nói, anh Trần Thanh Mại là một người sinh ra để viết văn, hay nói một cách văn vẻ hơn, lúc ra đời, anh đã mang theo vết mực trên đầu ngón tay".

Nhà văn Trần Thanh Mại (1908-1965).
Nhà văn Trần Thanh Mại (1908-1965).

Sau khi đất nước thống nhất, tên Trần Thanh Mại đã được lấy để đặt cho một đường ở Thành phố Huế quê hương, và một đường ở Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2005, Nhà xuất bản Văn học in "Trần Thanh Mại toàn tập" (ba tập) theo diện "Sách đặt hàng của Nhà nước".

Sở dĩ phải nói dài dòng như thế vì hai lẽ. Một là, mặc dù lâu nay vẫn có những chuyên luận, những bài nghiên cứu viết về Trần Thanh Mại, nhưng khá nhiều nhà nghiên cứu đã cố ý hay vô tình quên đi những đóng góp của ông khi viết về nghiên cứu và phê bình văn học Việt Nam cổ đại, cận đại và cả hiện đại.

Không ít nhà nghiên cứu, phê bình khi kể tên các nhà nghiên cứu, phê bình từ trước Cách mạng Tháng Tám đến nay đã... lờ đi tên Trần Thanh Mại; cứ như thể không có ông trên đời này! Hai là, giới thiệu mấy nét chung, mấy nét "vĩ mô" trong đời nhà văn, nhà nghiên cứu và phê bình này, để xem xét thêm tính "vi mô" kỳ thú của văn ông mà tôi sẽ kể trong một trường hợp sau đây.

Năm 1957, Nhà xuất bản Thanh niên in quyển tiểu luận "Thanh niên học tập sáng tác" của Trần Thanh Mại. Dưới hình thức những bức thư, Trần Thanh Mại gửi những bạn trẻ đang có mơ ước trở thành nhà văn những lời khuyên của một người đã nhiều năm trải qua "trường văn trận bút".

Trong một bức thư, ông viết: "Anh mà không thuộc lấy cho được 812 câu trong 3.254 câu của "Truyện Kiều" thì anh đừng hòng trở thành văn nghệ sĩ Việt Nam".

Là người sưu tầm, biên soạn và viết lời giới thiệu cho "Trần Thanh Mại toàn tập", tôi có lưu ý đến chi tiết này. Nhưng sẵn mang trong đầu tính "ước lệ" nhiều khi vẫn thấy trong văn (cả văn sáng tác và văn nghiên cứu, phê bình) tôi cho đây là một cách nói chỉ số nhiều với ý nghĩ tượng trưng, nghĩa là Trần Thanh Mại khuyên những người viết văn trẻ nên thuộc nhiều thơ trong "Truyện Kiều". Thế thôi! Tôi đã dừng lại đấy, mà không biết rằng nếu để tâm suy nghĩ sâu hơn sẽ phát hiện được một điều lý thú ở đây.

Rất may, sau đó nhà thơ Trần Ngọc Thụ (đã qua đời mươi năm trước) với con mắt tinh tế và cách nghĩ có chiều sâu đã tìm giúp. Trong một bài đăng trên báo Văn nghệ số ra ngày 7-2-2004 có tên "Con số 812 nói gì?" Trần Ngọc Thụ viết: "...Trần Thanh Mại chọn ra con số 812 là rất quyết đoán, rất tỉ mẩn trong nghề nghiệp...

Ở đây, Trần Thanh Mại muốn nói, con số đó là một phần tư (1/4) số câu thơ trong "Truyện Kiều". Có thể diễn giải như sau: chia 3254 câu thơ "Truyện Kiều" làm bốn phần ta sẽ được mỗi phần 813,5 câu. Thơ không thể lấy nửa câu, mà thơ lục bát thì không thể lấy số lẻ (813) nên dứt khoát phải chọn con số 812 (đẩy lên 814 thì "quá ¼)... Tôi thấy rất thú vị về giọng văn của Trần Thanh Mại". Trần Ngọc Thụ còn quá ư thận trọng kết luận bài viết của mình: "Trên đây là suy nghĩ chủ quan của tôi, không biết có đúng không".

Tôi thấy ngay nhà thơ đã tinh tế trong thưởng thức văn chương, và kêu lên trước Trần Ngọc Thụ ngay sau khi bài anh đăng báo: "Suy nghĩ chủ quan của anh rất đúng!". Ở đây, người viết là Trần Thanh Mại có một ẩn ý thú vị. Còn người đọc là Trần Ngọc Thụ thì phát hiện được ẩn ý ấy một cách tài tình!

3.Nhà thơ Lý Thân (780-846) đời Đường, Trung Quốc, có viết mấy bài thơ cổ phong. (Thơ cổ phong là thơ có từ trước đời Đường. Đến đời Đường, nó vẫn được dùng và có chịu ảnh hưởng của thơ Đường, nhưng không tuân theo niêm luật chặt chẽ của thơ Đường).

Một trong những bài thơ cổ phong của Lý Thân là bài này (phiên âm):

Sừ hòa nhật đương ngị
Hãn trích hòa hạ thổ
Thùy niệm bàn trung xan
Lạp lạp giai tân khổ

Dịch xuôi:

Xới lúa giữa ban trưa
Mồ hôi rỏ thấm đất chân lúa
Có ai nghĩ cơm trong mâm
Hạt nào cũng thấm cay đắng?

Bài thơ này, chỉ đọc qua cũng biết rất gần những câu ca dao quen thuộc của Việt Nam:

Cày đồng đang buổi ban trưa,
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
Ai ơi, bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần

Lâu nay, có người cho bài ca dao Việt Nam đã được ai đó dịch từ thơ Lý Thân ra tiếng Việt. Cũng có người cho thơ Lý Thân và bài ca dao đã gặp nhau một cách ngẫu nhiên, như cách nói của người Pháp: Những đầu óc lớn gặp nhau (Les grands esprits se rencontrent).

Tôi cho rằng, nếu dịch thì đây là bản dịch rất phóng túng mà lại hay. Còn rất khó có khả năng hai bài thơ gặp nhau một cách ngẫu nhiên. Theo tôi, còn một khả năng nữa: rất có thể một nhà nho nào đó của ta đã "mượn" ý thơ Lý Thân để viết ra những câu ca dao trên kia. Ngày trước, như một quy ước bất thành văn, người ta lấy ý thơ của nhau, thậm chí lấy nguyên thơ của người khác mà không hề nói năng gì, là chuyện rất bình thường.

Hồng Diệu

Các tin khác

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.