Ghi bên lề mấy chuyện thơ

Đã lâu lắm, tôi "phát hiện" đặc điểm này trong thơ (và văn) của nhà thơ Thanh Tịnh (1911 - 1988): Chất trữ tình đi đôi với tính hài hước, hóm hỉnh. Và tôi thấy đặc điểm này đi suốt cả một đời văn Thanh Tịnh...

1. Nhà thơ Nguyễn Ngọc Oánh, nguyên Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có một bài thơ tứ tuyệt hay:

Thăm bạn
Tháng năm xanh ai đốt
Tàn tro bay trắng đầu
Về quê thăm bạn cũ
Mây bồng bềnh mắt nhau

(11-2-1991)

Đọc hai câu trên của bài thơ: "Tháng năm xanh ai đốt/ Tàn trò bay trắng đầu", ta rất dễ nhớ đến hai câu nhà thơ Đoàn Văn Cừ (1913-2004) viết năm 1939, trong bài thơ "Chợ Tết":

Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau!

Cả hai nhà thơ đều thể hiện quan hệ giữa thời gian và tuổi tác, theo cách của mình. Mỗi cách có cái hay riêng. Nhưng câu thơ Đoàn Văn Cừ giản dị hơn câu thơ Nguyễn Ngọc Oánh (thơ giản dị mà hay thật khó).

Có điều nữa: Câu thơ đầu của Nguyễn Ngọc Oánh đọc thấy hơi vương vướng. Ở đây, tác giả dùng từ "năm" theo đơn vị thời gian (năm, tháng, ngày...). Nhưng cũng có khi "năm" lại dễ làm người đọc nhớ đến số từ (năm, sáu, bảy...) vì hai thứ dễ lẫn với nhau, cho dù không ai nghĩ "năm" ở câu thơ Nguyễn Ngọc Oánh là số từ cả!

Tôi nghĩ, nếu viết một cách khác, như "Tháng ngày xanh ai đốt" chẳng hạn, phải chăng câu thơ nghe thuận hơn? Có lẽ cũng vì nghĩ như thế mà nhà thơ Tế Hanh (1921-2009) có tập thơ "Theo nhịp tháng ngày" (in năm 1974) chứ không phải "Theo nhịp tháng năm".

2. Hơn bất cứ một thể loại nào khác, thơ đặc biệt chú ý đến ngôn từ. Nó rất coi trọng  tính vi mô. Một chữ trong thơ cực kỳ quan trọng. Vì vậy mà nhà thơ Giả Đảo (779 -843) đời Đường, Trung Quốc, mới có câu "Nhị cú tam niên đắc" (Hai câu thơ, phải làm ba năm, mới vừa ý). Ông Viên Mai (1716- 1790) là nhà thơ và nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình thơ đời Thanh, thì kể lại chuyện "Thạc Văn Vỹ ở đất Thường Châu có câu nói về việc làm thơ vất vả rằng: "Vị cầu nhất tự ổn - Nại đắc bán tiêu hàn" (Vì muốn có một chữ đắc địa/ Đành chịu rét nửa đêm). Viên Mai còn nói: "Làm thơ mà được người ta chữa cho một chữ khác gì lửa đỏ nhỏ giọt tuyết vào, vui không thể tả được"!

Nhà thơ Xuân Diệu.
Nhà thơ Xuân Diệu.

Ở ta, nhà thơ Quách Tấn (1910 - 1992) đã từng bảo: "Có lắm khi nghĩ một chữ, nát một khúc ruột"! (xem "Bóng ngày qua" của Quách Tấn, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1998, trang 262).

Nhà thơ Trần Đăng Khoa thời nhỏ, trong bài thơ "Đêm Côn Sơn" có hai câu:

Ngoài thềm rơi cái lá đa
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng

Chỉ một chữ "mỏng" mà câu thơ trở nên vô cùng kỳ thú. Nếu thay nó bằng một chữ nào khác, câu thơ sẽ rất xoàng.

Ấy thế mà một nhà thơ, bạn vong niên của tôi, trong một cuộc trao đổi khá rầm rộ về một chữ liên quan đến thơ Xuân Diệu, đã thốt lên một cách sai lầm xuất phát từ sự quá tự tin đến quyết liệt: "Khổ! Chỉ có mỗi một chữ, cũng chẳng phải chữ Xuân Diệu, mà rồi cũng bàn ra tán vào đến mấy số báo! Chẳng lẽ các bác phê bình không còn chuyện gì để nói nữa ư? Phê bình mà cứ lủn mà lủn mủn, trong khi văn học có bao nhiêu điều lớn lao đang đặt ra kia thì lại chẳng bàn. Nếu bạn đọc có trách như thế thì cũng chẳng oan đâu!" (Báo Văn nghệ, số 42, 16-10-1999).

Phải nói ngay rằng, bàn về một chữ trong thơ hoàn toàn không có gì là "lủn mà lủn mủn" cả! Trong nghiên cứu, phê bình thơ, cần bàn về những vấn đề "lớn lao" cũng cần bàn về cả những điều nhỏ bé (mà chưa hẳn nó đã thật là "nhỏ bé")! Bằng chứng là, sau ông bạn vong niên của tôi, còn có đến vài chục người bàn về cái chữ mà ông cho là "lủn mà lủn mủn" trên, cả báo trung ương cả báo các tỉnh! Và cũng chẳng có bạn đọc nào "trách" chuyện này, như ông bạn tôi... tưởng tượng!

Cũng hơi buồn cười nữa là ở chỗ, ông bạn tôi vừa than phiền như thế ở đầu bài báo thì ngay sau đó, ông đã lại rất hồn nhiên mà bàn tiếp, bàn sâu vào cái chữ ấy trong suốt một trang báo, dài hơn tất cả những người bàn về cái chữ mà ông bàn! Có đúng là ở đây, "gậy ông đập lưng ông" không vậy?

Cũng lạ là suốt thời gian tranh luận nói trên, cho đến ngày hôm nay, chưa thấy ai phát hiện chỗ sai trên đây của nhà thơ cũng là người bạn vong niên của tôi!

3. Đã lâu lắm, tôi "phát hiện" đặc điểm này trong thơ (và văn) của nhà thơ Thanh Tịnh (1911 - 1988): Chất trữ tình đi đôi với tính hài hước, hóm hỉnh. Và tôi thấy đặc điểm này đi suốt cả một đời văn Thanh Tịnh.

Nhà thơ Thanh Tịnh.
Nhà thơ Thanh Tịnh.

Đọc tập truyện ngắn "Quê mẹ" (in lần đầu năm 1941) và thơ Thanh Tịnh, ngay từ thuở ấy, đã có thể thấy điều này. Ở đây, chỉ xin kể một chuyện: Trước kia (và cả bây giờ) học môn sinh vật, học sinh nào chả biết một câu, đại loại: "Rắn là một loài bò sát, không chân...". Tôi rất ngờ, Thanh Tịnh đã biến câu này thành một câu hài hước khi đổi cái dấu phẩy để nó có một cách ngắt khác, và rồi cho một cậu học sinh gào lên (theo cách mà người ta thường gọi là "học gạo") trong một đêm trăng sáng, ở truyện ngắn "Tình thư" của Thanh Tịnh:

Rắn là một loài bò... i...a..... Rắn là một loài bò... Rắn là một loài bò... ê... a... sát không chân... ê... sát không chân!

Cũng vì tính hài hước, trào phúng khá đậm trong văn và đời Thanh Tịnh mà ông để lại nhiều giai thoại. Ở đây cũng chỉ kể một chuyện:

Biết Thanh Tịnh có tính hài hước, trào phúng, hay kể truyện vui, truyện tiếu lâm, Hội Nhà văn thường mời ông tiếp các đoàn khách văn nước ngoài đến thăm Việt Nam.

Một lần, tiếp đoàn nhà văn Liên Xô, trong đó có hai người đã rất thân với Thanh Tịnh từ trước, là nhà Việt Nam học cự phách Marian Tkachốp, nhà văn nổi tiếng Bôrít Pôlêvôi và mấy nhà văn khác. Trước khi vào bữa ăn, các nhà văn ngồi chuyện vãn. M. Tkachốp bảo, ngay trước hôm sang Việt Nam, anh đọc báo biết các nhà khoa học Mỹ vừa có một phát hiện rất mới: chế được một loại thuốc phụ nữ uống sẽ không đau khi đẻ. M. Tkachốp tưởng mọi người sẽ ngạc nhiên lắm. Bất ngờ, Thanh Tịnh cười lớn:

- Tưởng gì! Loại thuốc ấy Việt Nam có đã từ lâu!

Mọi người, cả Nga, cả Việt tròn xoe mắt!

Thanh Tịnh thủng thẳng tiếp:

- Chẳng những loại thuốc ấy chữa được đau cho người đẻ, mà còn góp vào việc bình đẳng nam nữ ở cái xứ phong kiến đã thống trị đến nghìn năm như Việt Nam! Các bạn Nga có biết rừng núi chúng tôi có rất nhiều loại lá chữa được nhiều thứ bệnh không? Đã lâu, một ông cụ người Mường ở Hòa Bình tìm ra thứ lá rất đặc biệt. Phụ nữ nào uống thuốc làm từ thứ lá ấy, đẻ sẽ không đau tí nào cho đến khi đứa bé ra đời, mà cái đau lại chuyển sang... bố đứa bé. Kể cũng phải! Việt Nam có một thành ngữ về phụ nữ: "Mang nặng, đẻ đau". Bây giờ, bố đứa bé gánh cho một nửa (đau), còn mẹ đứa bé chỉ phải chịu một nửa (mang nặng), có phải bình đẳng không, công bằng không? Tại sao sinh ra được một đứa con là việc của hai người, mà chỉ riêng người phụ nữ vừa phải mang nặng, vừa phải đẻ đau?

M. Tkachốp sốt ruột:

- Vòng vo mãi! Kể tiếp xem nào!

Thanh Tịnh ậm ừ, chậm rãi:

- Cứ từ từ! Thứ thuốc ấy được biết khắp cả Việt Nam. Đâu đâu dùng cũng tốt. Ai cũng khen ngợi. Nhưng... một hôm, ở phố Lý Nam Đế của mình có một cô gái sắp đẻ. Cô cũng được một người bạn mách cho mua thứ thuốc này. Cô cũng uống trước khi đẻ. Một lúc sau, khi đứa bé sắp ra đời, người chồng đang ở nhà mà không thấy đau đớn gì, trong khi đó, anh hàng xóm thì bỗng nhiên ôm bụng, kêu la dữ dội (Thanh Tịnh không nói rõ anh hàng xóm chính là... bố đứa bé). Từ đó, thứ thuốc này bị cấm tiệt. Vì nó làm... lộ bí mật! Phụ nữ Việt Nam lại "mang nặng, đẻ đau" như xưa!

Mọi người đều biết nhà thơ Thanh Tịnh bịa chuyện một trăm phần trăm, mà vẫn cười nghiêng, cười ngả!

Hồng Diệu

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.