Gặp nghệ nhân ca trù tuổi 92

Sinh năm 1928, ông Ngô Văn Đảm là Nghệ nhân Ưu tú cao tuổi nhất được Sở Văn hóa – Thể thao Hà Nội đề nghị xét tặng danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể lần thứ III- năm 2021 (cùng với 24 Nghệ nhân Ưu tú khác). Gặp ông trong một buổi chiều đầu hè, tôi thực sự bất ngờ về đôi chân khỏe khoắn, đôi tai thính, đôi mắt tinh và đặc biệt là một trí nhớ tuyệt vời của người đàn ông đã sống gần một thế kỷ trên cõi đời này.

“Kho tư liệu sống”

Thú thật khi được soạn giả Mai Văn Lạng, Trưởng phòng Dân ca và Nhạc cổ truyền Đài Tiếng nói Việt Nam giới thiệu về nghệ nhân cao niên vẫn hoạt động sôi nổi tại Hà Nội, tôi không nghĩ nghệ nhân Ngô Văn Đảm vẫn còn tinh tường, nhanh nhẹn đến vậy. Mới đến đầu phố Quan Nhân (phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân) hỏi thăm thì mấy người bán hàng rìa đường đã nhanh nhảu chỉ đến số nhà 76. Đó là một căn nhà 3 tầng cũ kĩ, giản đơn trong con phố tấp nập, sầm uất của Thủ đô, nơi nghệ nhân Ngô Văn Đảm đi về trong những chuyến đi biểu diễn xa gần.

Nghệ nhân Ưu tú Ngô Văn Đảm sung sức ở tuổi 92.
Nghệ nhân Ưu tú Ngô Văn Đảm sung sức ở tuổi 92.

Cụ bà đã mất, cụ ông hiện sống với người con trai đã bước vào tuổi 70. Nói là sống chung, nhưng ông vẫn có không gian riêng để sáng tạo trong căn phòng chừng 15 mét vuông trên gác hai của ngôi nhà.

Khi tôi đến, ông đang mở tài liệu để soạn lời mới cho bài chèo “Lới lơ” phục vụ cho công việc dạy học tại Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam (thuộc Hội Nhạc sĩ Việt Nam), nơi ông đang giữ cương vị Trưởng ban Nghiên cứu. Những nét chữ vẫn còn rất rõ ràng, tròn trịa, những câu chuyện còn rất mạch lạc, chi tiết, đủ thấy ông còn minh mẫn nhường nào. 

Khi tôi còn đang chưa hết bất ngờ thì ông đã “khoe” bình thường vẫn đi xe bus biểu diễn tại các điểm ở Hà Nội, hoặc đi diễn các tỉnh lân cận (nếu có ôtô đón). Có lẽ ở Hà Nội nói riêng và trên cả nước nói chung hiện còn không có nhiều nghệ nhân ở tuổi U100 vẫn có sức làm việc phi thường như ông.

Sự làm việc nghiêm túc, chỉn chu của ông đã được nhạc sĩ Thao Giang, Giám đốc Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam đánh giá cao. Nhạc sĩ Thao Giang từng khẳng định: “Nghệ nhân Ngô Văn Đảm đã truyền dạy được nhiều học viên trưởng thành, nhất là trong lĩnh vực ca trù. Ông rất có trách nhiệm với công việc được giao, nhiều lĩnh vực thực hiện mang lại kết quả thiết thực, đặc biệt là trong lĩnh vực ca trù. Ông cũng đã cung cấp cho Trung tâm rất nhiều tư liệu về các loại dân ca xưa nay, chúng tôi thường gọi ông là “kho tư liệu sống” của âm nhạc dân tộc”. 

Đúng vậy, được ngồi trong căn phòng làm việc của ông, được nghe ông lần lượt gảy 4 loại đàn (đàn bầu, đàn đáy, đàn nhị, đàn nguyệt) mới thấy tiếng đàn thật sâu lắng, da diết và đầy sức truyền cảm. Không chỉ gảy đàn thành thục, ông còn có vốn kiến thức khá dày dặn, sâu sắc về chèo, xẩm, quan họ, chầu văn… và đặc biệt là ca trù – loại hình đã đem đến cho ông danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú.

Ca trù sẽ được hồi sinh

Ca trù sẽ được hồi sinh, đó là nhận định của nghệ nhân Ngô Văn Đảm từ gần 20 năm trước và quả thực đến hôm nay loại hình nghệ thuật này đang đi đúng với những gì mà ông tiên đoán. 

Ông bảo, ca trù là môn ca hát phục vụ cung đình, thờ phụng đền đài, đồng thời là “sân chơi” của tầng lớp thượng lưu, quý tộc và một số văn nhân, một lối chơi phong lưu tao nhã dần dần phát triển rộng ra phục vụ nhiều đối tượng. Dẫu có đôi chút “biến thể” nhưng ca trù vẫn là loại hình ca nhạc nghệ thuật cao, mang nhiều đặc điểm độc đáo.

Đó là tính văn chương, thơ phú trong ca từ: Cao siêu, sang trọng, lãng mạn nhưng dễ hiểu mặt khác lại nôm na, đơn giản, rất tự do nhưng không dễ dãi, buông thả. Từ tầng lớp “thượng đẳng” đến bình dân nói chung đều cảm nhận được cái hay, cái đẹp, bởi thứ văn chương ấy khi ca lên đã nói được tiếng lòng của nhiều tầng lớp trong xã hội. Hơn nữa, theo ông ca trù còn mang âm nhạc, một loại nhạc cổ đích thực Việt Nam.

 “Dù ai đàn hát kiểu gì cũng phải đảm bảo âm hưởng ngôn ngữ Việt (đơn âm, đa thanh) thể hiện bằng năm cái dấu khi có chữ quốc ngữ. Ca hát phải tròn vành rõ chữ, ngân rung rõ ràng, mạch lạc theo giọng, theo lời. Tiếng đàn, nhịp phách, điểm trống chầu, tuy chủ thể, khách thể có khác nhau nhưng đòi hỏi sự điêu luyện như những nghệ nhân thực thụ diễn ra khi thực hiện ở một thể thống nhất”, nghệ nhân Ngô Văn Đảm nhấn mạnh.

Nghệ nhân Ưu tú Ngô Văn Đảm (trái) trong một chương trình biểu diễn cùng Nghệ nhân Ưu tú Vân Mai (ca nương Vân Mai).
Nghệ nhân Ưu tú Ngô Văn Đảm (trái) trong một chương trình biểu diễn cùng Nghệ nhân Ưu tú Vân Mai (ca nương Vân Mai).

Đắm say với chầu văn từ năm 1936, ông thực hành chủ yếu là đánh trống chầu. Theo ông, muốn đánh được trống hay phải học, phải hiểu nhiều lĩnh vực ca trù. Văn chương phải nắm chủ đề tư tưởng của từng bài, thể cách phải nắm vững từng loại. Số lượng bài hát nhiều vô kể và có trên dưới 50 thể cách hiện hành và ông cũng đã đánh trống chầu được gần hết thể cách hiện có. Đương nhiên đó phải là một quá trình học hỏi và trải nghiệm dài lâu. 

“Đầu tiên muốn vào học phải thông thạo các chốt chính. Đó là 5 khổ đàn, 5 khổ phách, 1 khổ song đầu, 2 là khổ giữa, 3 là khổ dóc, 4 là khổ lá đầu và khổ song cuối rồi vào hát. Nếu người có năng khiếu chỉ độ 3 buổi học là thực hành được. Đàn phách đệm hát ca trù thực chất là đệm hát thơ. Quanh đi quẩn lại mấy khổ đàn phách trên thông thạo thì hát được hầu hết các bài trong thể cách hát nói và một số thể cách khác”, ông tiết lộ.

Nghệ nhân Ưu tú Ngô Văn Đảm.
Nghệ nhân Ưu tú Ngô Văn Đảm.

Tuy nhiên, với kinh nghiệm hơn 80 năm nghiên cứu ca trù, ông cho biết cái khó của thực hành ca trù hiện nay là làm sao đưa được ca trù cổ truyền xưa ứng dụng vào xã hội đương đại hôm nay. Hơn nữa, hiện nay ca trù đang trong giai đoạn phải “bảo vệ khẩn cấp” theo yêu cầu của UNESCO, tuy nhiên trên cơ sở lý luận, lịch sử, tài liệu ca trù hiện còn cùng với khả năng thực hành hiện nay, chúng ta có cơ sở đề nghị đưa ca trù ra khỏi “Bảo vệ khẩn cấp”. 

Một điều nữa mà ông cũng đang trăn trở là việc truyền dạy ca trù cần phải có chương trình giáo án (ký âm nhạc mới) bổ sung vào cách truyền dạy cổ truyền. Người truyền dạy phải có được ý thức: Tài giỏi thì không giấu nghề, chưa hiểu thấu đáo thì không khoe khoang, giấu dốt.

Những thành tích đáng nể

Một trong những đóng góp của nghệ nhân Ngô Văn Đảm là đã thành lập Câu lạc bộ UNESCO ca nhạc truyền thống Hà Nội từ năm 2000, trong đó có nhóm ca trù Vân Mai. Ông đã cùng nhóm ca trù này đánh trống chầu, chơi đàn phục vụ trong nhiều lễ hội lớn. Bản thân ông cũng đã tham dự nhiều nhạc hội ca trù toàn quốc, trong khu vực và ở Hà Nội. 

Năm 2006, ông được tặng Bằng khen xuất sắc tại Hội diễn ca tù toàn quốc tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Năm 2014, nhóm ca trù 3 nghệ nhân gồm: Đào Kiều Oanh (ca), Phạm Hùng Cường (kép đàn), Ngô Văn Đảm (trống chầu) tham dự liên hoan ca trù do Viện Âm nhạc tổ chức với kết quả chung cuộc nhóm giành Giải Đặc biệt với bài ca trù cổ “Non mai hồng hạnh”. Gần đây vào cuối năm 2019, ông đã được giấy khen trình diễn xuất sắc tại Liên hoan ca trù toàn quốc tại Hà Tĩnh…

Có được những thành tích đáng ghi nhận ấy, nghệ nhân Ngô Văn Đảm đã trải qua một quá trình hoạt động nghệ thuật hết sức hăng say, tâm huyết. Ông sinh ra ở một vùng quê có truyền thống văn nghệ - thôn Cao Bạt Lụ, xã Nam Cao, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Ông bắt đầu đến với ca trù từ năm lên 8 tuổi khi được theo học các nghệ nhân nổi tiếng của quê lúa, như cụ Kép Lạn, trùm Thịnh, Xuân Kiều, Minh Lý… Sau đó, ông lên Hà Nội công tác trong ngành Giao thông vận tải và được lĩnh hội kiến thức từ các nghệ nhân Quách Thị Hồ, Chu Văn Du, Cẩm Hương, Ngô Linh Ngọc, Thanh Trúc, Nguyễn Văn Khuê…

Ngô Khiêm

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.