Dịch giả Pháp ngữ Nguyễn Hữu Vỹ: Đam mê văn chương không bao giờ là muộn

Nguyễn Hữu Vỹ là một trong số những dịch giả được đào tạo tiếng Pháp thời sau giải phóng. Thời gian qua, anh là người tích cực dấn thân vào mảng dịch văn học, đầy khó khăn, với niềm đam mê và sự kiên trì. Chúng ta cùng trò chuyện với anh về mảng dịch văn học Pháp ngữ, cùng ảnh hưởng của nền văn học này tới văn học Việt Nam, và con đường dịch thuật mà anh đang theo đuổi.

- Anh tham gia giới dịch văn học hơi muộn, lý do tại sao? Và dù biết dịch văn học là mảnh đất khó nhằn, khó làm ra kinh tế mà anh vẫn dấn thân?

+  Thực tình mà nói ban đầu tôi dịch chỉ đơn thuần là phục vụ cho việc giảng dạy chứ không nghĩ đến “làm mầu” hay cao hơn là “kiếm tiền”. Tôi trở thành Hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng chuyên ngành dịch đã hơn chục năm rồi. Việc dịch văn học không “dễ xơi”, chả khác nào như kẻ kéo cày trên cánh đồng phu chữ. Dịch được một truyện lọt tai các biên tập viên của đài, báo đâu phải dễ. Nhưng vì đam mê văn chương và cũng muốn thử sức nên tôi cứ “húc” thôi.

- Cá nhân anh thấy dịch văn học có ý nghĩa ra sao cho sự phát triển và giao lưu văn học, văn hóa?

+ Trong thời đại ngày nay, hội nhập văn hóa là một yếu tố tất yếu không thể thiếu vì không một quốc gia nào có thể phát triển khi đứng biệt lập, độc lập với quốc gia khác. Giao lưu văn hóa là mối liên kết giữa các nền văn hóa để hướng tới sự phát triển của văn hóa dân tộc. Văn học là một bộ phận không thể tách rời trong quá trình hội nhập để mở rộng giao lưu văn hóa. Giao lưu văn học hay nói cụ thể hơn là truyền bá các tác phẩm văn học thì công tác dịch thuật đóng vai trò rất quan trọng và không thể thiếu. Những năm gần đây, có một số nhà văn, dịch giả đã đứng ra liên kết với các tổ chức, nhà xuất bản nước ngoài để xuất khẩu văn học Việt ra thế giới. Để việc chuyển ngữ các tác phẩm văn học Việt ra tiếng nước ngoài, và “xuất khẩu” có hiệu quả, thiết nghĩ ngoài nỗ lực của các dịch giả thì nhà nước cũng cần có chính sách vĩ mô đủ lớn như các nước trên thế giới đã làm, ví dụ: tổ chức các hội dịch thuật, có chương trình cụ thể cho các dịch giả có điều kiện tiếp cận với giới dịch giả nước ngoài để trao đổi nghề nghiệp và giao lưu văn hóa, thành lập các quỹ dịch thuật… Có như vậy các tác phẩm văn học Việt mới có cơ hội xuất khẩu.

Dịch giả Pháp ngữ Nguyễn Hữu Vỹ: Đam mê văn chương không bao giờ là muộn -0
Dịch giả Nguyễn Hữu Vỹ.

- Anh có quan tâm đến văn học Pháp đương đại? Nhà văn Pháp nào, tác phẩm văn học Pháp nào mà anh muốn dịch, hoặc đang có kế hoạch tiếp cận bản thảo để dịch?

+ Theo dõi sự hiện diện của dòng văn học của Pháp tại Việt Nam tôi nhất trí với nhận định của tiến sỹ, dịch giả Trần Văn Công là dòng văn học đang được đón nhận tại Việt Nam là dòng văn học không kén độc giả, có nghĩa là có thể đọc rất nhanh, đọc bất kỳ lúc nào và đọc không cần suy nghĩ.

Ví dụ, những tác phẩm của tác giả như Marc Lesvy hay Guillaume Musso vẫn được người Pháp gọi là “roman de gare”, tức là sách để đọc trong khi chờ tàu hay ở trên xe buýt được giới trẻ Việt Nam rất chuộng. Tuy  nhiên, với những người nghiên cứu văn học Pháp, những tác phẩm của những tác giả này thiên về tính giải trí, đọc để biết về một luồng gió mới của văn học đương đại Pháp, còn nếu muốn tìm những giá trị nổi bật về mặt văn học thì đó lại không phải là sự lựa chọn của họ. Với tôi cũng vậy, tôi cũng không nằm ngoài trào lưu ấy. Theo suy nghĩ của tôi, đã theo nghề dịch thì đôi khi mình phải dịch theo yêu cầu của người khác, tỷ dụ như của một nhà xuất bản nào đó đặt hàng chẳng hạn.

Trong năm nay và có thể sang năm tới tôi phải hoàn thành dịch một tác phẩm có tên là “Les déferlantes” tạm dịch “Những người khởi xướng”  có độ dày hơn 500 trang của nhà văn Claudie Gallay. Và tác phẩm “Quand la Chine séveillera… le monde tremblera”, tạm dịch “Nếu Trung Quốc thức dậy… thế giới sẽ nghiêng ngả” của tác giả Alain Peyrefitte, tập 1 và tập 2.

- Tiếng Pháp và các tác phẩm văn học Pháp có ảnh hưởng như thế nào đối với xã hội Việt Nam thời nay, theo ý kiến của anh? Anh có hay chú ý tìm kiếm các hoạt động văn học Pháp tại Việt Nam?

+ Pháp là quốc gia sở hữu nền văn chương rực rỡ bậc nhất nhân loại, cống hiến nhiều tác phẩm kinh điển, đưa ra trào lưu, tư tưởng có sức lan tỏa, ảnh hưởng rộng khắp trên thế giới. Riêng đối với Việt Nam thì sự lan tỏa đó càng đậm nét. Văn học Pháp khi vào Việt Nam đã đem tới những ảnh hưởng của nền văn chương Pháp, đã có nhiều cách tân về hình thức, thay đổi trong phong cách, đề xuất tư tưởng mới. Văn học Pháp vào Việt Nam từ khoảng cuối thế kỷ 19. Theo một số nguồn tài liệu, tác phẩm đầu tiên của Pháp được dịch ra tiếng Việt là “Chuyện Phang-sa” diễn ra quốc ngữ (16 chuyện ngụ ngôn của La Fontaine), xuất bản năm 1844 do Trương Minh Ký dịch. Năm 1885, ông còn dịch “Les aventures de Telemque” với tên Tê - Lê mạc phiêu liêu ký (đăng trên Gia Định báo).

Đến năm 1920 hàng loạt các tác phẩm văn chương lớn của Pháp được giới thiệu tại Việt Nam qua bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh như: “Ba chàng ngự lâm pháo thủ” (A.Dumas), “Những người khốn khổ” (Les misérables, V.Hugo), “Truyện trẻ con” (Les contes, Ch.Perault), “Truyện miếng da lừa” (La peau de chagrin, H. De Balzac)…

Kể từ đó văn học Pháp được dịch và xuất bản nhiều ở Việt Nam, để lại dấu ấn với văn chương nước nhà. Trong giai đoạn này có hai hiện tượng của văn đàn Việt chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn học Pháp:

1. Nhóm Tự lực văn đoàn thành lập, viết văn xuôi lãng mạn, đưa những tư tưởng tiến bộ của chủ nghĩa lãng mạn Pháp vào văn học Việt Nam. Lần đầu tiên, văn chương Việt có ý thức đề cao tự do cá nhân, đưa cái tôi cá nhân chống lại những lễ giáo phong kiến cũ. Đó là những nhà văn tiêu biểu phải kể đến như Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam, Thế Lữ…

2. Thơ ca Pháp cũng có ảnh hưởng đậm nét tới phong trào Thơ Mới 1932-1942. Để chống lại lối thơ cũ với niêm luật sáo mòn, khô cứng, các nhà thơ thời đó chủ trương cách tân thơ. Đọc tác phẩm của Xuân Diệu - một đại diện tiêu biểu của phong trào Thơ Mới có thể tìm thấy những câu thơ dịch sát nghĩa như: “Hơn một loài hoa đã rụng cánh/Plus dune espèce fleurs a quitté  les branches”, cùng với những tứ thơ mượn trong thơ Pháp, tác phẩm của Xuân Diệu còn học hỏi, đổi mới, áp dụng lối dùng từ, đặt câu theo đặc trưng thơ Pháp. Nhà phê bình Hoài Thanh đã viết: “Hàn Mạc Tử và Chế Lan Viên đều chịu ảnh hưởng rất nặng của Baudelaine, thơ ca Pháp hiện đại đã tiếp sức cho phong trào thơ mới nói riêng và ngôn ngữ thơ trong văn học Việt Nam nói chung”. Văn học Pháp thịnh hành tại Việt Nam đầu thế kỷ 20 tới mức hình thành nên một thể loại phóng tác theo tác phẩm văn học Pháp. Hồ Biểu Chánh là tác giả tiêu biểu cho cách làm này, với những tiểu thuyết như: “Chúa tàu kim quy” (Phỏng theo Bá tước Monte-Cristo), “Cay đắng mùi đời” (phỏng theo Không gia đình), “Ngọn gió đùa” (phỏng theo Những người khốn khổ)…

Văn học hiện sinh của Pháp với hai đại diện tiêu biểu là Paul Saurre à Albert Camus để lại dấu ấn trong trong tiểu thuyết Việt Nam. Theo một số nhà nghiên cứu thì văn học hiện sinh Việt Nam manh nha từ nửa đầu thế kỷ 20, lên ngôi ở miền Nam vào những năm 1960 - 1970 và trở lại văn đàn cuối thế kỷ 20, nở rộ những năm đầu thế kỷ 21.

Ngày nay, văn chương Pháp đến với độc giả Việt Nam nhiều, phong phú hơn bao giờ hết. Bên cạnh những tác phẩm kinh điển vẫn tiếp tục được tái bản, là những tác phẩm văn chương đương thời. Các tên tuổi như Patrick Modiano, Milan Kundera… hay những tác giả đoạt giải Goncourt liên tục được giới thiệu ở Việt Nam. Những tác giả như Marc Levy, Guillaume Musso, Thierry Cohen hay Anna Gavalda… chinh phục bạn đọc trẻ Việt Nam bằng nhiều tác phẩm lãng mạn.

Những năm gần đây các hoạt động giao lưu văn hóa Pháp Việt cũng rất phát triển. Tuần lễ văn học Pháp lần đầu tiên được tổ chức năm 2018 tại Việt Nam, địa điểm 24 Tràng Tiền, Hà Nội. Tại đây trưng bày “Bìa một số tác phẩm văn học Pháp được chuyển thể”. Triển lãm trưng bày bìa phiên bản tiếng Việt do Nhã Nam phát hành trong suốt mười năm qua của một số tác phẩm văn học nổi tiếng đã được chuyển thể thành phim như: “Bản giao hưởng Pháp” của Irène Nesmirosky, “Buồn ơi chào mi” của Fran#oise Sagan, “Nét duyên góa phụ” của Alice Ferney, “Mối tình Paris” của David Foenkinos,...

- Tổ chức Hội nhịp cầu Pháp ngữ  Paris “Interface  Francophone” Hội hợp tác giữa Huế  và Paris thường trao đổi các tác phẩm văn học dịch của hai nước. Vừa qua đã xuất bản tập thơ dịch từ tiếng Việt sang tiếng Pháp với tiêu đề “Tình thơ không biên giới”/Poésies sans frontières.

- Hằng ngày, anh tích lũy vốn tiếng Pháp của mình thế nào, nhất là những vốn liếng hữu ích cho việc dịch văn học Pháp? Anh có thể cho biết kế hoạch trong năm 2021 của mình?

+  Những kiến thức mình có được là do quá trình tích lũy bởi việc tự học và dịch tác phẩm mà thành. Nói một cách cụ thể tích lũy như thế nào thì rất khó. Nó không như cái thời ta đi học, mỗi ngày phải đặt ra mục tiêu: thuộc bao nhiêu từ, bao nhiêu đoạn văn, dịch bao nhiêu bài… Từ nay đến cuối năm cũng chỉ còn 2 tháng nữa, tôi vẫn tiếp tục dịch tác phẩm “Les déferlantes”. Và có thể kết hợp với Hội “Interface  Francophone” dịch một tác phẩm thơ từ tiếng Việt sang tiếng Pháp.

- Xin trân trọng cảm ơn anh.

Kiều Mai (Thực hiện)

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.