Địa đạo Vịnh Mốc - một thế giới sống kiên cường dưới lòng đất

Giữa mảnh đất lửa Quảng Trị, nơi từng là ranh giới khốc liệt giữa hai miền Nam - Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, có một công trình ngầm đặc biệt trong lòng đất mang đậm dấu ấn trí tuệ, lòng dũng cảm và khát vọng sống mãnh liệt của con người: địa đạo Vịnh Mốc.

Địa đạo Vịnh Mốc thuộc thôn Vịnh Mốc, xã Kim Thạch, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị (cũ) và là di tích tiêu biểu trong hệ thống 114 địa đạo, làng hầm Vĩnh Linh. Nếu địa đạo Củ Chi là minh chứng cho sự sáng tạo trong chiến tranh ở vùng Nam Bộ thì địa đạo Vịnh Mốc lại là biểu tượng của ý chí sinh tồn mãnh liệt giữa khói lửa chiến tranh tại vùng đất khói lửa miền Trung.

Không chỉ là nơi ẩn náu tránh bom đạn, nơi nuôi giấu lực lượng cách mạng, mà còn là một "thế giới sống dưới lòng đất" - nơi con người vẫn sinh hoạt, học tập, sinh con, giữ gìn truyền thống giữa địa tầng tăm tối và tiếng bom gầm rền trên mặt đất.

Pháo đài dưới lòng đất giữa vùng giới tuyến

Vĩnh Linh là huyện phía Bắc tỉnh Quảng Trị, năm 1954 bị chia cắt làm đôi bởi vĩ tuyến 17 theo Hiệp định Giơnevơ. Năm 1965, đế quốc Mỹ mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc Việt Nam bằng không lực, mảnh đất Vĩnh Linh phía Bắc sông Bến Hải trở thành túi bom, tuyến lửa của cuộc chiến.

Địa đạo Vịnh Mốc - một thế giới sống kiên cường dưới lòng đất -1
Địa đạo Vịnh Mốc - một thế giới sống kiên cường dưới lòng đất.

Trong khoảng thời gian từ năm 1965-1972, trước khi Quảng Trị được giải phóng, mảnh đất khoảng 800km2 của Vĩnh Linh phải chịu hơn nửa triệu tấn bom đạn dội xuống, tính trung bình mỗi người dân phải chịu 7 tấn. Hệ thống làng hầm - địa đạo Vĩnh Linh đã ra đời để người dân có thể sống và chiến đấu trong hoàn cảnh mưa bom bão đạn và Vịnh Mốc là tiêu biểu nhất.

Trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ với tinh thần kiên cường, "một tấc không đi, một ly không rời", nơi đây là tiền đồn của miền Bắc và là điểm tập trung chi viện cho đảo Cồn Cỏ - hòn đảo có vị trí chiến lược quan trọng trong việc án giữ vùng biển Vĩnh Linh.

Địa đạo Vịnh Mốc là hệ thống hầm ngầm sâu trong lòng đất, gồm 3 địa đạo chính nối thông với nhau thành hệ thống liên hoàn với tổng chiều dài 2.000m. Địa đạo được cấu trúc 3 tầng, trong đó tầng trên cùng sâu cách mặt đất 8-10m có chiều dài 421,82m (nơi chiến đấu và trú ẩn tạm thời), tầng thứ 2 sâu cách mặt đất 12-15m dài 508,08m (nơi sống và sinh hoạt của nhân dân, đóng trụ sở của Đảng ủy, UBND và Bộ Chỉ huy Quân sự), tầng thứ 3 sâu cách mặt đất 20-23m dài 130,35m (dùng làm kho chứa hậu cần cung cấp cho đảo Cồn Cỏ và phục vụ chiến đấu của quân dân Vịnh Mốc); các tầng này và các nhánh được kết nối với nhau qua trục chính dài 780m.

Thời điểm cao nhất có 600 người ở trong lòng địa đạo. Toàn bộ hệ thống có 13 cửa ra vào, gồm 7 cửa thông ra hướng biển, 6 cửa được thông lên đồi. Các cửa hầm có cột gỗ để chống sập và sụt lở, được ngụy trang kín đáo, chếch theo hướng gió, đảm bảo thông thoáng. Hai bên trục đường, cứ khoảng cách từ 3m - 5m thì khoét lõm sâu vào thành từng ô nhỏ, mỗi ô là một hộ gia đình ăn ở và sinh hoạt.

Không khí trong địa đạo được lưu thông bằng hệ thống lỗ thông hơi khéo léo, chống được hơi độc và tránh được sự phát hiện của kẻ địch. Những bức tường đất đỏ bazan được nện chắc đến mức bom tấn không thể phá vỡ.

Chứng tích của ý chí, trí tuệ và lòng quả cảm của người dân Vịnh Mốc

Hệ thống địa đạo Vịnh Mốc được đào từ 1965-1967 với những công cụ thô sơ như: cuốc, xẻng, xà beng và ánh sáng của những chiếc đèn dầu leo lét, hàng trăm con người đã miệt mài khoét từng mét đất, gạt từng phiến đá suốt gần hai năm, trong điều kiện thiếu thốn, hiểm nguy luôn rình rập. Đây là công trình được tạo dựng bằng sức lực, trí tuệ của quân và dân Vịnh Mốc, với trên 18.000 ngày công. Trong mưa bom bão đạn, họ đã đào và vận chuyển khoảng 6.000m3 đất, đá để hoàn thành công trình kỳ vĩ và đặc biệt này.

Hơn thế, người dân nơi đây còn sống và chiến đấu, đánh giặc ngay trên mảnh đất quê hương; tập kết vận chuyển vũ khí lương thực, cấp cứu thương binh, chi viện cho đảo Cồn Cỏ... Điều đặc biệt khiến địa đạo Vịnh Mốc khác biệt chính là tính "sống" trong thiết kế. Không chỉ là nơi trú ẩn, địa đạo được xây dựng như một ngôi làng thực sự có không gian sinh sống của người dân, kho đựng vũ khí đạn dược - lương thực, cơ quan của Đảng và chính quyền, quân sự, các công trình công cộng (hội trường, nhà hộ sinh, trạm phẫu thuật, trạm thông tin...).

Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt đó, mầm sống vẫn sinh sôi dưới hàng chục mét âm lòng đất khi 17 cháu bé đã ra đời ở dưới làng hầm địa đạo Vịnh Mốc. Còn tính 114 địa đạo trên địa bàn huyện Vĩnh Linh đã có 63 đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời giữa tiếng bom rơi, đạn nổ.

Địa đạo Vịnh Mốc - một thế giới sống kiên cường dưới lòng đất -0
Du khách tham quan Địa đạo Vịnh Mốc.

Chính yếu tố đảm bảo thông hơi, thông khí một cách an toàn tuyệt đối, đảm bảo cho hàng trăm người sinh hoạt và chiến đấu trong lòng địa đạo là một yếu tố quan trọng nhất của địa đạo. Đi sâu vào lòng địa đạo, dưới ánh đèn chiếu đủ sáng, du khách nhìn thấy rõ màu đất đỏ của vùng đất huyền thoại cũng như nơi ở và sinh hoạt trong địa đạo. Trong gần 2.000 ngày đêm trong lòng địa đạo, quân và dân Vịnh Mốc cũng như Vĩnh Linh đã tạo nên một huyền thoại. Đó là huyền thoại về sức sống kỳ diệu và ý chí quả cảm của con người.

Câu chuyện của quá khứ sống động

Địa đạo Vịnh Mốc không chỉ là công trình quân sự mà còn là biểu tượng của tinh thần đoàn kết, sáng tạo và ý chí quật cường của nhân dân Quảng Trị nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Trong điều kiện thiếu thốn, nguy hiểm, người dân vẫn kiên trì bám đất, sống và chiến đấu như những cây phong ba bám chặt vào vách đá giữa đại ngàn bão tố.

Khi hòa bình lập lại, những ký ức đau thương đã dần lùi xa, nhưng câu chuyện về Vịnh Mốc vẫn sống mãi trong lòng mỗi người dân, là minh chứng cho sự kiên cường và khát vọng sống không bao giờ tắt. Hành trình khám phá địa đạo Vịnh Mốc không chỉ mang đến trải nghiệm du lịch độc đáo mà còn là cơ hội để hiểu rõ hơn về lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam. Địa đạo Vịnh Mốc là nơi kết nối quá khứ với hiện tại, nơi mà mỗi du khách đều có thể cảm nhận được sức mạnh của tinh thần dân tộc, lòng dũng cảm và khát vọng tự do.

Đến thăm địa đạo Vịnh Mốc, du khách sẽ cảm nhận được sự chịu đựng gian khổ, sức sáng tạo không ngừng và tinh thần chiến đấu quả cảm của quân và dân Quảng Trị trong những năm chiến tranh, nơi mà mỗi bậc cầu thang, mỗi vách đất, mỗi gian phòng đều kể lại câu chuyện thầm lặng nhưng oai hùng về một thời "sống trong lòng đất để bảo vệ bầu trời". Làng hầm địa đạo Vịnh Mốc đã được Đảng, Nhà nước tuyên dương 2 lần anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Với những giá trị lịch sử to lớn đó, ngày 1/7/2015, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có Quyết định công nhận Di tích quốc gia đặc biệt đối với Hệ thống làng hầm Vĩnh Linh và địa đạo Vịnh Mốc.

Với tất cả những giá trị lịch sử và văn hóa mà địa đạo Vịnh Mốc mang lại, nơi đây là một điểm đến du lịch để mỗi người sống chậm lại, suy ngẫm và trân trọng những gì mà thế hệ cha anh đã hy sinh để bảo vệ quê hương, đất nước. Và hôm nay, giữa thanh bình, khi đứng trong lòng địa đạo, chúng ta cúi đầu tri ân và tự nhắc mình: sự sống, tự do và độc lập mà ta đang có được hôm nay, là nhờ bao người đã sống, đã chiến đấu - từ trong lòng đất.

Nguyễn Văn Nhật Thành

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.