Đi tìm “tính Việt” trong những tách trà

Trong "Trà Kinh", Lục Vũ viết về nguồn gốc của trà  như sau: "Trà là giống cây quý phương Nam" (Trần Quang Đức dịch), phương Nam ở đây ám chỉ một dải đất rộng lớn từ phía Nam sông Dương Tử, kéo dài xuống Ấn Độ và bán đảo Đông Dương, mà Việt Nam ở trong đó.

Đầu thế kỷ 20, nhà thực vật học William H.Uker trong tác phẩm "All about tea" khảo sát các vùng trà trên thế giới cũng mô tả những khu chè hoang tự nhiên mọc lẫn giữa rừng phía Bắc của Đông Nam Á. Do thiếu thốn về sử liệu và sự biến dịch nhanh chóng của các mô hình phát triển ở cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, nên dần dần, tách trà mang "tính Việt" trở nên mù mờ, trong khi ấy lại khoác lên quá nhiều lớp văn hóa ngoại lai.

chen-tra-1.jpg -0

Từ thiếu thốn trong ghi chép đến những đồn điền trà thời Pháp thuộc

Trong tác phẩm "Chuyện trà", một cuốn sách nỗ lực đi truy tìm dấu vết của trà Việt trong văn bản, tác giả Trần Quang Đức đưa ra một nhận định thật xác đáng: "Về phía Việt Nam, dù các trí thức Việt xưa kia sáng tác không ít các giai phẩm miêu tả thú vui thưởng trà, song tuyệt đại đa số chẳng ai quan tâm viết sách" và do đó, "ghi chép về trà ở ta cơ bản rất thiếu vắng". Quả  thật, trà xuất hiện không ít lần trong thơ của các thiền giả Lý Trần như Viên Chiếu thiền sư, Trần Thái Tông, Huyền Quang thiền sư, Trần Nhân Tông… và cũng chẳng hề vắng bóng trong cảnh nhàn của các nhà Nho như Nguyễn Trung Ngạn, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Phạm Đình Hổ; đặc biệt không thể thiếu trong thơ của các bậc danh y như Tuệ Tĩnh, Lê Hữu Trác. Nhưng thơ của họ không cho chúng ta thấy được họ uống loại trà nào, nghi thức ra sao, mà chủ yếu cho ta thấy cái tinh thần "thanh tâm" của trà (chữ dùng của Tuệ Tĩnh thiền sư), và bởi vậy trà gần với cảnh giới tĩnh tại và nhàn dật của người xưa. Tính chất "thanh tâm" này của trà chắc hẳn có phần ảnh hưởng của văn hóa Thiền mà sự ảnh hưởng của nó lan rộng tới cả Nhật Bản và Hàn Quốc. Trà tại  Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc mà hình tượng văn hóa gắn liền theo đó thường mang bóng dáng thanh nhàn với bộ ấm chén tinh xảo, bếp lửa nhỏ bập bùng, và các trà cụ phức tạp… thường có vị nhẹ, ít đắng chát, thiên về hương thơm, hậu vị ngọt. Thậm chí, tại Trung Quốc, các nghệ nhân trà phát triển liên tục các phương thức sao chế, lên men để triệt tiêu dần vị đắng chát trong tách trà. Toàn bộ tinh thần này, dường như xa lạ với chén chè Việt thôn dã.

Chén chè với những người dân lao động Việt Nam cũng thân thiết chẳng kém gì tách trà với những bậc trí giả. Nếu bậc trí giả tìm đến trà để "thanh tâm", thì người lao động tìm đến chén chè như một thú vui khó cưỡng, là đại diện cho sự sung túc, với các cụm từ như "no xôi, chán chè" hay "rượu chè be bét"; và cả một ngành buôn mang lại sinh kế no đủ. Thực ra, hình ảnh "hái trà", "buôn trà" xuất hiện trong ca dao nhiều hơn so với "uống trà", "thưởng trà", ví dụ như các câu: "Muốn ăn cơm trắng cá mè/ Thì về làng Quỷnh hái chè với anh" hay "Chè ngon ai hái nửa nương/ Cau non nửa chẽ người thương nửa chừng". Chè hay trà, cho đến thế kỷ 20, xem chừng vẫn là một xa xỉ phẩm, bởi thế mà Nguyễn Tuân vẫn coi "ấm trà Tàu" như một thời quá vãng của đời sống xa xỉ xưa cũ để mà nhung nhớ.

Đi tìm “tính Việt” trong những tách trà -0

Sớm nhận thấy trà là một xa xỉ phẩm có thể mang lại lợi nhuận lớn, người Pháp khi thiết lập quyền lực thực dân của mình tại Việt Nam cũng đặc biệt chú trọng đến phát triển các đồn điền chè. Việc trồng chè ở miền Bắc Việt Nam được đề cập đầu tiên trong văn bản của Pierre Lefèvre-Pontalis viết năm 1892, cho thấy rằng người Pháp dự định phát triển đồn điền chè thành một hoạt động kinh doanh quy mô: "chúng ta đã cho phép các thương gia Trung Quốc nắm thế độc quyền" trong việc buôn bán gạo, vốn là cái nôi thịnh vượng của Nam Kỳ, tác giả tin rằng "việc trồng chè, lan rộng từ Trung Quốc xuống Đông Dương và Java và mang một hình thức mới, đáng được chúng ta quan tâm đặc biệt, bởi vì tại các vùng đất thuộc địa của ta ở Đông Dương, nơi sản phẩm này được người bản xứ đánh giá cao, thì việc trồng và bán chè rất có thể mang nhiều lời lãi cho chúng ta". Dù vậy, ước mơ này của người Pháp không thực hiện được. Mâu thuẫn về định hướng phát triển giữa phát triển dòng trà xuất khẩu sang Trung Quốc (mà đòi hỏi kỹ thuật rất cao) hay dòng trà có thể làm trà đen để xuất khẩu sang châu Âu đã ảnh hưởng đến sự phát triển của các đồn điền chè tại Bắc Kỳ. Bên cạnh đó, cuộc khủng hoảng kinh tế tại Châu Âu trước Thế chiến II cũng khiến cho việc xuất khẩu trà từ Đông Dương bị gián đoạn. Dù người Pháp thất bại, nhưng họ đã để lại cho Việt Nam ta những đồn điền chè quy mô, khác hẳn với phương thức canh tác trà hoang dã mọc xen lẫn rừng cổ truyền của văn hóa trà Á Đông, nhờ thế mà lá trà trở nên phổ biến hơn, đến với đại đa số người dân hơn. Cây chè hay trà được trồng theo quy mô đồn điền thường có độ đắng và chát nhiều, khác biệt với thức trà "thanh tâm" mà người xưa nhắc đến. Dân ta uống đã quen khẩu vị này, lâu dần trở thành một dạng thẩm mỹ trong ẩm thực. Do đó, thơ ca về trà thế kỷ 20 của các trí thức không còn thứ phong vị nhàn dật nữa, mà có phần đắng chát như trải nghiệm cuộc đời. Vũ Hoàng Chương khi viết về trà sen thì cảm thán: "Nâng chén, mời anh thưởng vị trà/ Đừng quên tan tác mấy đời hoa/ Cạn từng hớp nhỏ cho sen đượm/ Vớt lại trần ai một chút Ta". Còn Phùng Cung lại tấm tắc với trà xanh Tân Cương "Quất mãi nước sôi/ Trà đau nát bã/ Không đổi giọng/ Tân Cương".

Đi tìm hương vị trà "thuần Việt"

Từ những tư liệu cổ để lại, dường như việc định vị "tính Việt" trong trà trở nên rất khó khăn, bởi từ phương thức canh tác đến pha chế và khẩu vị, nếu không phải ảnh hưởng từ phương Bắc thì cũng ảnh hưởng từ phương Tây. Để hình thành nên văn hóa trà Việt, có lẽ cần một cuộc đào sâu nghiên cứu không chỉ của các nghệ nhân trà, mà còn của cả các học giả. Đây là con đường tìm tòi tất yếu của các nền ẩm thực tại những quốc gia mà văn hóa cũ đã bị phai mờ hoặc chưa phát triển rõ nét. Năm 2015, kênh truyền hình Netflix thực hiện một Tvseries có tên là "Chef's Table" về các bếp trưởng đã phục hưng và cách tân ẩm thực bản địa, câu chuyện về họ cho thấy rằng tại những nơi mà văn hóa ẩm thực chưa phát triển hoặc bị xóa nhòa do quá trình đô hộ thì việc tìm về văn hóa bản địa dân gian là hướng đi tuyệt vời để tạo ra các đột phá. "Chef's Table" đã kể rất nhiều câu chuyện về các đầu bếp tại Bắc Âu, Úc, Ấn Độ, Nga… những người nỗ lực đi tìm bản sắc cho văn hóa ẩm thực quốc gia mình, và họ đều bắt đầu bằng một cuộc nghiên cứu đời sống dân cư địa phương và thói quen ăn uống dân dã. Dần dần, họ phát triển món mới và tạo ra bản sắc. Từ câu chuyện của các bếp trưởng phương Tây, ta thấy một chút ánh le lói cho ý tưởng về chén trà mang đậm tính Việt.

Cũng trong tác phẩm "Chuyện trà" của Trần Quang Đức, chén chè tươi bỗng nhiên xuất hiện một cách kỳ thú như một thứ "nam trà quốc túy". Hơn nữa, nước chè tươi không phải chỉ là thức uống bình dân, mà còn được ưa chuộng bởi tầng lớp quan lại, quý tộc. Hoàng đế Minh Mệnh cũng đặc biệt thích chè tươi hay còn gọi là Nam trà: "Loại trà này tuy cùng tên với giả mính (tức trà) nhưng cành lá có hơi khác, cách uống thì quá khác biệt… Trà này không dùng lửa sấy, lúc uống lại điều chế thêm nước lạnh" (Trích "Đại Nam nhất thống chí". Cách uống Nam trà này dần dần được nhận diện là chè Huế, và chè Huế trở nên phổ biến trong dân gian chẳng kém trà Tàu, thậm chí có phần lấn lướt bởi tính chất giản đơn, gần gũi, không lệ thuộc vào các nghi thức trà phức tạp. Nhưng cách uống này, không phải từ thời Nguyễn mới có, Trần Quang Đức đã thực hiện một cuộc truy tìm dấu vết chè tươi từ văn bản đến địa lý để tìm ra được rằng những người "thổ" tại khu vực Thanh Hóa từ xa xưa đã uống nước chè tươi bằng cách hái lá giã nát, phơi ở chỗ mát rồi đun uống, và giống chè xa xưa nhất thích hợp với cách uống này chính là chè Bạng, nay thuộc huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Giống chè này sau đó được nhân rộng tại nhiều địa phương khác, trong đó có Huế.

Nhưng nếu dừng ở bát nước chè tươi, xem chừng văn hóa trà Việt khó hình thành. Cuộc truy nguyên bát nước chè tươi chỉ là một hé mở về phương pháp tiếp cận để những người say mê với văn hóa trà tiếp tục tìm kiếm và kiến tạo một bản sắc văn hóa trà hoàn toàn mới. Khi người dân bản địa lựa chọn một phương thức để canh tác hay pha trà thì đều ẩn chứa những nguyên cớ riêng, và chính nguyên cớ ấy tạo nên sức sống của nét văn hóa.

Hành trình tìm một tách trà mang bản sắc Việt tưởng như là đơn giản, nhưng lại không hề dễ dàng, bởi sự xâm nhập của các trào lưu nhất thời nhưng dấu ấn lại dài lâu, và đó không phải chỉ là vấn đề của riêng ngành trà, mà còn của rất nhiều ngành nghề cổ truyền khác tại Việt Nam trên con đường vươn ra biển lớn.

Hà Thủy Nguyên

Các tin khác

Giải mã ADN: Ký tự di truyền gọi tên người lính vô danh

Giải mã ADN: Ký tự di truyền gọi tên người lính vô danh

Sau những cánh cửa khép kín của Trung tâm Giám định ADN (Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), hàng nghìn mẫu hài cốt liệt sĩ đang được giải mã bằng những công nghệ hiện đại nhất. Mỗi tín hiệu di truyền được phục hồi không chỉ là một kết quả khoa học, mà còn mở ra hy vọng đưa những người lính vô danh trở về với tên tuổi, quê hương và gia đình sau hơn nửa thế kỷ đợi chờ.

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Sử sách còn ghi lại mẩu chuyện: Ngày nọ, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) đuổi khách ra khỏi cửa, người trong nhà loáng thoáng nghe hai tiếng thô tục mà xưa nay ông chưa hề nói bao giờ. Bà vợ không rõ vì lý do gì, dịu dàng đến gần hỏi: “Cớ sự gì mà thầy giận đến thế, lại mắng người ta là loài chó má?”. Vẫn chưa hết cơn bực bội, ông nói: “Tôi nào có dám mắng ai như thế đâu. Tôi chỉ bảo tên ấy rằng: Chả lẽ ông xem tôi là hạng “chó má” hay sao mà tính chuyện hối lộ với tôi?. Đấy! Bị người ta nghĩ rằng mình có thể bị mua chuộc, là đã thấy nhục rồi”. Nếu ông Niêm dùng mỗi từ “chó” đã đủ nghĩa, nhưng phải thêm từ “má” thì mới bộc lộ hết nỗi tức giận.

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Thư thả đọc thơ, tình cờ bắt gặp bài thơ "Thuở trước" của của nhà thơ Nguyễn Bính, hình ảnh "vinh quy bái tổ" đã để lại dấu ấn khá sâu sắc: "Một quan là sáu trăm đồng/ Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi/ Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy/ Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng/ Tôi ra đón tận gốc bang/ Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem...".
Nghĩ rằng, trong bất cứ thời đại nào, muốn chọn lấy những người tài giỏi ra giúp nước thì không có phương thức nào tối ưu hơn việc chăm lo giáo dục cho toàn dân và tổ chức thi cử công bằng.

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Từng bị xem là dòng phim chỉ có lỗ, chủ yếu sản xuất theo đơn đặt hàng của Nhà nước, vài năm gần đây, phim lịch sử đang “lội ngược dòng” đầy ngoạn mục. Ngoài các hãng phim nhà nước, nhiều hãng phim tư nhân cũng tấp nập sản xuất phim lịch sử.

Lắt léo... lái lại liền

Lắt léo... lái lại liền

Một trong những thú chơi chữ của người Việt còn có nói lái. “Nói bằng cách giao hoán âm đầu, vần và thanh điệu của hai âm tiết trong một tổ hợp để tạo nên nghĩa khác hẳn với nghĩa ban đầu của tổ hợp: Cách nói đầu tiên nghĩa tiền đâu là lối nói lái trong tiếng Việt”, “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) giải thích. Có nhiều cách nói lái như lái dĩa, lái giọng, lái i-tờ, lái tộ, lái vận… mà người chơi cũng phân chia “đẳng cấp” khác nhau, thí dụ “lái dở” và “lái giỏi” - lưu ý hai cụm từ này, ta chớ… nói lái.

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Ở vùng núi cao, đá là thứ già nhất. Người Mông bảo đá không có miệng nhưng đá biết kể chuyện. Lý Hoàng Cung là người biết nghe đá kể. Gần 30 năm khoác sắc phục Công an, chị đi qua bao bản làng, bao vui buồn của đồng bào mình. Công việc cho chị sự vững vàng, thơ giữ lại những rung động. Vì thế, giữa những đêm gió núi ở Lao Chải, chị vẫn nhận ra một nụ đào vừa nở hay ánh đèn khuya từ một bản xa để lặng lẽ cất thành thơ. Nữ Trưởng Công an xã Lao Chải (Lào Cai) giữ bình yên bằng trách nhiệm và giữ vẻ đẹp của cuộc sống bằng cảm xúc.

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Có lẽ, đã đến lúc chúng ta phải nói với nhau một cách thật cẩn trọng và đầy quan sát về phim kinh dị Việt Nam. Một nền điện ảnh trưởng thành phải có cả những vùng tối để bước vào. Nhưng nếu vùng tối ấy chỉ được dựng lên để khán giả giật mình, còn người làm phim thì mãn nguyện vì rạp đông, tôi bắt đầu thấy bất an. Không phải là cho một bộ phim. Mà cho cái thói quen dễ dãi đang len vào thị hiếu.

Những con đường quanh co bên hàng rào đá

Èze - xứ sở của đá

Nói tới nước Pháp, người ta thường trầm trồ trước những kiến trúc tráng lệ luôn thách thức vượt thời gian. Nhưng ẩn sau vẻ hào nhoáng ấy, vẫn có những ngôi làng cổ giữ được nét đẹp nguyên sơ, mà nếu đặt chân đến, du khách như lạc vào một vùng ký ức xưa cũ. Èze chính là một trong những ngôi làng đó.

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

"Đến Ý rồi mới cảm nhận được rằng chỉ một ánh nhìn thôi cũng như đã đi qua ngàn năm lịch sử". Có người lại nói nước Ý ngày nay giống như một bức tranh thêu hai mặt tuyệt mỹ. Một mặt là những lâu đài, cung điện, nhà thờ và đền đài, lăng tẩm cổ xưa, mang hơi thở ngàn năm bên cạnh các hồ lớn, dòng sông; một mặt lại là ánh đèn điện rực rỡ của thành phố hiện đại đang không ngừng chuyển động.

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".