Di sản thơ nôm Nguyễn Trãi: Kho báu của muôn đời

Bên cạnh mảng thơ chữ Hán tập hợp trong cuốn "Ức trai thi tập", nội dung tư tưởng và chất lượng nghệ thuật đều đã đạt đến mức cổ điển, Nguyễn Trãi còn có cả 254 bài thơ Nôm, tập hợp trong cuốn "Quốc âm thi tập". Đây mới thật sự là đóng góp lớn nhất của Nguyễn Trãi cho nền thơ dân tộc, đồng thời ông cũng đã đóng góp công lao to lớn nhất trong việc làm hồi sinh ngôn ngữ và văn hóa nước nhà!...

1. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ cả trong và ngoài nước, ước đoán rằng chữ Nôm có thể đã xuất hiện ở nước ta từ khoảng thế kỷ VIII sau Công nguyên. Đến đời Lý-Trần, đã có một số tác giả sáng tác bằng chữ Nôm được ghi nhận, ví như Trần Nhân Tông, Huyền Quang (Lý Đạo Tái), Nguyễn Sĩ Cố, Hàn Thuyên (Nguyễn Thuyên), Chu Văn An....

Tuy nhiên, một số tác phẩm thơ-phú viết bằng chữ Nôm hiện đã được tìm thấy là quá ít ỏi, mà sau đó lại phần nhiều cũng đã bị thất lạc. Đó là điều vô cùng đáng tiếc.

Thực ra, chữ Nôm là thứ chữ được cha ông ta mượn từ dạng chữ Hán, cải tiến nó, để ghi âm tiếng Việt, nhưng đã có sự sáng tạo đáng kể và cũng đã được sắp xếp theo một hệ thống ngữ âm khoa học. Dầu vậy, đương thời nó vẫn chưa được coi trọng, thậm chí có khi nó còn bị khinh rẻ, rằng "Nôm na là cha mách qué"...

Di sản thơ nôm Nguyễn Trãi: Kho báu của muôn đời -0
Danh nhân Nguyễn Trãi (1380-1442).

Chữ Hán mới là chữ được sử dụng như một thứ văn tự chính thống, được dùng để thi cử nơi trường ốc và trong các văn bản có tính chất pháp quy của nhà nước phong kiến, quân chủ. Do vậy, vị thế của chữ Nôm, theo đó, là những sáng tác bằng chữ Nôm của cha ông ta cũng có số phận quá hẩm hiu.

Cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc hàng ngàn năm của cha ông ta, luôn song hành và gắn liền với cuộc đấu tranh giành quyền độc lập về văn hóa, mà trong đó, ngôn ngữ vẫn là yếu tố có tính chất then chốt và quyết định sự tồn vong của dân tộc. Nhiều thế hệ trí thức nước ta đã nối tiếp nhau làm điều đó, mặc dù lịch sử dân tộc ta từng trải qua bao phen binh lửa điêu tàn, trong đó, phải nhấn mạnh thêm một lý do căn bản là bọn giặc Minh xâm lược đã âm mưu triệt để tiêu diệt nền văn hóa của dân tộc ta...

2. Nhưng thật may mắn là trời đã sinh ra Nguyễn Trãi, một thiên tài trác việt, chẳng những để cứu dân tộc ta khỏi ách đô hộ của giặc Minh phương Bắc vô cùng tàn bạo, mà đồng thời, lại cứu cả di sản tiếng Việt vô giá của chúng ta. Hơn thế nữa, ông còn là người đưa tiếng Việt ta lên đỉnh cao chói lọi, bằng chính những áng thơ Nôm tuyệt kỹ của mình. "Quốc âm thi tập" của Đại thi hào Nguyễn Trãi, chính là tập thơ Quốc âm lớn nhất trong lịch sử nước nhà, mặc dù 254 bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi đã được sưu tầm và công bố hiện nay, chắc chắn chưa phải là đã đầy đủ. 

3. Bên cạnh mảng thơ chữ Hán hội đủ được các tố chất đặc trưng của sự uyên bác, của sự mực thước và tinh tế. Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi dẫu có tiếp thu, tiếp biến từ tinh hoa của thơ Đường, thơ Tống bên Tàu, nhưng là để chuyển tải tư tưởng, tâm hồn và trí tuệ Việt.

Đặc biệt hơn, Nguyễn Trãi còn có mảng thơ Nôm, thơ Việt được ghi âm bằng tiếng Việt, cực kỳ rực rỡ về hương sắc, thấm đẫm vẻ đẹp tâm hồn nhân văn, nhân bản của người Đại Việt. Thành tựu thơ Nôm của Nguyễn Trãi, nhìn trước ngó sau, vẫn không ai có thể so sánh được với ông!...

Có thể thấy mấy điểm nổi bật ở thơ Nôm Nguyễn Trãi:

3.1 Hàm lượng triết học rất cao và phong phú. Chỉ cần đọc một bài:

"Đủng đỉnh chiều hôm dắt tay,
Trong thế giới phút chim bay.
Non cao non thấp, mây thuộc,
Cây cứng cây mềm, gió hay.
Nước mấy trăm thu còn vậy,
Nguyệt bao nhiêu kiếp vẫn rày.
Vì chưng mọi chốn đều thông hết,
Bui một lòng người cực hiểm thay!".

Chỉ cần đọc một câu:

"Nguyệt xuyên há dễ thâu lòng trúc,
Nước chảy âu khôn xiết bóng non"...

Người đọc cũng đã phải vắt óc ra mà suy ngẫm. Và khi đã vỡ vạc ra rồi, thì mới sảng khoái mà ồ lên thích thú, vô cùng thích thú!...

3.2 Thiên nhiên đất nước quê hương tươi đẹp được Nguyễn Trãi đưa vào trong thơ Nôm của ông thật vô cùng phong phú và rực rỡ lạ lùng. "Nước biếc non xanh thuyền gối bãi/ Đêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu". Chỉ một vài câu thơ, mà đọc lên đã thấy ngân nga những thanh âm trong trẻo:

"Dấu người đi là đá mòn,
Đường hoa vấn vít trúc luồn.
Cửa song giãi xâm hơi nắng,
Tiếng vượn kêu vang cách non
".

Hoặc như một đêm trăng huyền ảo:

"Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc,
Thuyền chở yên hà nặng vạy then
"...

Văn hào Lỗ Tấn bên Tàu viết một câu đại khái: "Tất cả mọi con đường đều do con người đi nhiều mà thành"! Ấy thế mà thiên hạ đã xuýt xoa khen nức khen nở.  Nguyễn Trãi trước Lỗ Tấn khoảng năm trăm năm đã viết: "Dấu người đi là đá mòn"!...

3.3 Thơ Nôm Nguyễn Trãi thể hiện một cách rất sinh động đời sống sinh hoạt và bóng dáng hồn nhiên của lịch sử xã hội Đại Việt. Những câu như: "Chong đèn chực tuổi cay con mắt /Đốt trúc khua na đắng lỗ tai" (Trừ tịch), đọc và suy ngẫm bao nhiêu lần, vẫn chưa thôi thú vị.

Trước Nguyễn Bỉnh Khiêm 111 năm, Nguyễn Trãi từng viết: "Đắc thì thân thích chen chân đến/ Thất sở láng giềng ngoảnh mặt đi". Còn Nguyễn Bỉnh Khiêm thì viết: "Được thời thân thích chen chân đến/ Thất thế hương lư ngoảnh mặt đi".

Những câu thơ như là tục ngữ:

"Lân cận nhà giàu no bữa cốm,
Bạn bè kẻ trộm phải đau đòn
",

Nó vẫn có thể là "bản gốc" của câu tục ngữ ở đời sau: "Ở cạnh nhà giàu đau răng ăn cốm/ Bạn bè kẻ trộm ốm lưng chịu đòn". Hoặc như: "Tay ai thì lại làm nuôi miệng /Làm biếng ngồi ăn lở núi non". Những câu thơ đã thành khẩu hiệu tươi ròng nơi trường ốc:

"Nên thợ nên thầy vì có học,
No ăn no mặc bởi hay làm"...

3.4 Thơ Nôm Nguyễn Trãi thể hiện sâu sắc và tinh tế tâm sự của người anh hùng thất thế trước vận nước đang suy. Một sự phân vân trước vận hội của đất nước và của kẻ sĩ nặng lòng lo nước thương dân: "Thuyền mọn còn chèo chăng khứng đỗ/ Trời ban tối ước về đâu?"... Mặc dù bị vô hiệu hóa, hàng chục năm "nhàn quan", "thanh quan", nhưng Nguyễn Trãi không đêm nào ngon giấc. Rất nhiều đêm Tiên sinh nằm thao thức, trằn trọc suy tư không ngủ. Tấm lòng lo nước thương dân của Tiên sinh vẫn "đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông".

"Còn có một niềm trung liễn hiếu,
Mài chẳng khuyết, nhuộm chẳng đen
".

Hoặc như:

"Còn có một lòng âu việc nước,
Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung
"...

3.5 Qua thơ chữ Hán và đặc biệt là một số bài thơ Nôm, chúng ta được biết Nguyễn Trãi từng có nhiều năm ngồi dạy học khi ở Khuyến Lương (quận Hoàng Mai, Hà Nội ngày nay). Khi thì ở Côn Sơn rảnh rỗi nhàn quan. Tuy nhiên, hình như vẫn chưa thấy có ai sưu tầm được thơ văn của học trò Nguyễn Trãi viết về thầy học của mình.

Sao vậy? Điều này cũng thật dễ hiểu. Nguyễn Trãi bị vu oan, bị khép vào tội "đại nghịch", phải "Tru di tam tộc" (Giết cả ba họ), cho nên những học trò Nguyễn Trãi đang làm quan trong triều, đương nhiên cũng phải vạ lây.

Thơ văn của học trò viết về thầy Nguyễn Trãi, do vậy, cũng không có ai dám lưu trữ. Đó chính là chỗ còn khiếm khuyết trong mảng thơ rất quan trọng này. Hy vọng sẽ có những nhà nghiên cứu tiếp tục đi sâu tìm hiểu mảng đề tài này, để có thể dựng lên chân dung một nhà giáo lớn trong sự nghiệp giáo dục của cha ông, đồng thời, góp thêm một nét bổ sung cho sự hoàn chỉnh, phong phú chân dung nhân vật lịch sử, thi nhân vĩ đại NGUYỄN TRÃI...

4. Nguyễn Trãi là một nhân vật lịch sử khổng lồ. Một thiên tài nhiều mặt, nghìn năm mới có một người như thế. Ngọn núi thơ Nguyễn Trãi, trải sáu trăm năm, vẫn sừng sững như Thái Sơn, mà "Nước chảy âu khôn xiết bóng non".

Thơ Nguyễn Trãi là kết tinh của hồn thơ dân tộc. Qua thơ Nguyễn Trãi, thấy hiện lên sừng sững chân dung một con người kỳ vĩ mà gần gũi đáng yêu vô cùng.

Qua thơ Nguyễn Trãi, cả thơ viết bằng chữ Hán và thơ Nôm, đồng thời cũng thấy hiện lên bóng dáng của thăng trầm lịch sử, với cả những nhấp nhô chìm nổi ba đào của nhân tình thế thái.

Qua thơ Nguyễn Trãi, đồng thời cũng thấy hiện lên bức tranh Tổ quốc với thiên nhiên bể rộng sông dài, non xanh nước biếc tuyệt vời diễm lệ, theo đó là tình yêu quê hương thiết tha nồng cháy của một con người bình dị, yêu nước thương dân vô bờ bến.

Qua thơ Nguyễn Trãi, cũng lại thấy hiện rõ chân dung một trí thức lớn, cả cuộc đời chỉ biết "lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ", chỉ có một mơ ước nồng cháy "Dân giàu đủ khắp đòi phương" (Bảo kính cảnh giới 43).

Thơ Nguyễn Trãi đặc sắc về nghệ thuật, nhưng đó lại là nghệ thuật cao diệu của tấm lòng thành thực, đồng thời hòa quyện với tư tưởng lớn, sáng trong một trái tim nhân hậu và vĩ đại.

Do vậy, chúng tôi nghĩ rằng, đọc thơ Nguyễn Trãi không chỉ là là đọc bằng mắt, mà hơn thế, còn phải đọc bằng tư duy, bằng các chiều kích văn hóa, bằng cảm thức thẩm mỹ linh diệu, mới có thể hiểu rõ được tiết tấu của cái điệu tâm hồn vừa thanh cao, vừa trần tục, vừa lãng mạn sầm uất bao la, long lanh ngời sáng.

Kìa như "Đêm thanh hây hẩy gác vàng, người như một ông Tiên ở trong tòa ngọc. Cái tài làm hay làm đẹp cho nước, xưa nay chưa từng thấy bao giờ!" (Nguyễn Mộng Tuân). Đọc thơ Nguyễn Trãi, tâm hồn chúng ta như được chắp cánh bay lên, bay lên cao mãi, cũng với lung linh một niềm tự hào bất tận!...

Vũ Bình Lục

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.