Đêm - như một thi pháp!

Đêm đi vào văn chương như một tất yếu, cao hơn như là một thi pháp cơ bản. Trước hết là phạm trù chỉ không thời gian, mà bất cứ tác phẩm nào cũng đều chịu giới hạn trong một khoảng không gian, thời gian nhất định.

Xét về thời gian vật lý thì đêm chiếm một nửa của ngày (24 giờ), là khoảng thời gian để con người nghỉ ngơi, phần nhiều dành cho hoạt động ngủ (7,8 giờ). Những giấc mơ, những kế hoạch, những trăn trở, những nghĩ suy... thường có trong đêm. 

Đêm là khoảng thời gian lý tưởng nhất để người ta yêu dấu nhau. Thế nên bóng đêm có nét biểu tượng cho sự thai nghén, nảy mầm, sinh sôi, phát triển... Đêm cũng để người ta đánh nhau. Bao nhiêu trận đánh lớn trong lịch sử nhân loại được tiến hành về đêm. 

Đêm còn là “đồng minh” của lũ trộm cướp, làm điều gian trá, khuất tất... Thế nên đêm hẳn phải là biểu trưng cho những gì tối tăm, hèn kém, lạc hậu. Cái từ ghép “đi đêm” không chỉ có ở ngôn ngữ nước ta mà có ở nhiều ngôn ngữ khác chỉ những hành vi ám muội...

Bức tranh “Kiều và bóng ma Đạm Tiên!”
Bức tranh “Kiều và bóng ma Đạm Tiên!”

Đêm đi vào văn chương như một tất yếu, cao hơn như là một thi pháp cơ bản. Trước hết là phạm trù chỉ không thời gian, mà bất cứ tác phẩm nào cũng đều chịu giới hạn trong một khoảng không gian, thời gian nhất định. Điều này lý giải thần thoại và cổ tích nguyên thủy ít xuất hiện hình tượng bóng đêm bởi một đặc trưng thể loại là không có vật cản. Nhân vật cổ tích thoắt ẩn thoắt hiện, nay đây mai đó, đi mây về gió... tức không chịu giới hạn. 

Thứ nữa tư duy cổ tích đơn giản, nhất phiến, nhân vật là chính nó, mà những suy nghĩ, những trí tuệ thường bật ra từ đêm. Do vậy đến thời kỳ trí tuệ phát triển thì trong văn chương hình tượng đêm mới xuất hiện nhiều. Điều này được chứng minh trong văn học phục hưng phương Tây và văn chương trung đại ở ta. 

Chỉ có đêm làm không gian thì loại nhân vật đặc biệt mới xuất hiện: “hồn ma”. “Hồn ma” chứ không phải thần, thánh hay tà yêu quỷ quái... mà là nửa người nửa ma. Không có đêm thì hồn ma vua cha Hăm Lét không thể hiện về, do vậy cốt truyện sẽ không vận động như vốn có. Không có đêm thì nàng Vũ Nương (“Người con gái Nam Xương”) không thể hiện lên nói chuyện với chồng... 

“Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây” kể chàng học trò Hà Nhân rủ hai ả thiếu nữ về nhà trọ rồi cợt nhả. Hai ả thẹn thò nói: “Chúng em việc xuân chưa trải, nhụy thắm còn phong, chỉ e tình hoa run rẩy, làm giảm thú phong lưu đi mất”. Thế nhưng đêm ấy họ vẫn “tắt đèn đi nằm. Tựa ngọc kề vàng, gối vừa xô đã khoát song hoa đào nghiêng ngả”. Họ lao vào cuộc truy hoan mê mải. Cuối cùng mới vỡ ra chuyện hai ả đó là hồn hoa thành tinh. 

Lời bình của truyện thật chí lý: “thanh lòng không bằng ít dục, dục nếu yên lặng thì lòng rỗng mà điều thiện sẽ vào, tà quỷ còn đến quấy nhiễu làm sao được. Chàng họ Hà lòng trẻ có nhiều vật dục, cho nên loài kia mới thừa cơ quyến rũ”. Bài học ở đây là khuyên người ta phải giảm bớt “vật dục” đi, nếu không muốn bị “quyến rũ” bởi loài yêu ma... Nhất là học trò phải tập trung bút nghiên chứ đừng chuyện hoa bay bướm lượn!

Bước vào ngôi chùa chèo cổ Việt phải đi qua cái cổng tam quan, cửa chính giữa là bi, hai cửa phụ hai bên là hài. Cuộc đời buồn của người phụ nữ là cảm hứng chủ đạo để dân gian xây dựng những hình tượng nhân vật chính là nữ giới trong chèo: Thị Kính, Thị Mầu (Quan Âm Thị Kính), Xúy Vân (Kim Nham), Thị Phương (Trương Viên), Đào Huế (Chu Mãi Thần), Châu Long (Lưu Bình Dương Lễ)… 

Trong đêm hôm khuya khoắt hành động cắt cái râu ngược cho chồng lại là nguồn cơn của mọi bi kịch và lột tả hay nhất các tính cách. Người vợ hiền ngoan yêu chồng lại bị vu oan thành kẻ giết chồng. Cái nguyên cớ bên ngoài là “hiểu nhầm” nhưng sâu xa bên trong là tính cách yếu nhược, hèn hạ, nông cạn của người chồng học trò Thiện Sỹ, là tính cách gia trưởng, độc đoán của “nhà chồng” Sùng Ông Sùng Bà cay nghiệt thiếu nhân tính (Quân Âm Thị Kính).

Bức tranh “Huấn Cao cho chữ!”
Bức tranh “Huấn Cao cho chữ!”

Không chỉ huyền thoại mà hầu như mọi thể loại đều tìm cách nương khung cấu trúc vào bóng đêm để sáng tạo. Như một tương phản nghệ thuật, bóng đêm càng dày huyền thoại càng tỏa sáng lung linh. Nhân vật trong văn chương hiện thực cũng tương tự.  

Tuồng “Nghêu Sò Ốc Hến” kể chuyện bốn nhân vật cùng tên. Khép lại vở là cảnh đêm có quan huyện, thầy đề, thầy lý chạm mặt nhau và bị các bà vợ đánh ghen tại nhà Thị Hến. Thế là các quan chẳng làm việc quan mà làm việc của “quỷ”, “quỷ” dâm dục, “quỷ” tham lam, ngu ngốc, dốt nát, đê tiện… 

Đó chính là những sự ngược đời đáng vạch trần lên án nhất với lũ mang tiếng làm “công quyền” mà thực chất là “phản công quyền”… Chỉ có bóng đêm mới làm nền để tạo ra cái ngược đời đích đáng mỉa mai sâu cay các bậc tu mi nam tử quyền cao chức trọng đều biến thành các con vật chui gầm giường, chui vào đống váy áo cũ đàn bà, làm chó kêu, cú rúc…

Hai chữ “văng vẳng” tạo ra sự ám ảnh trong thơ “Bà Chúa thơ Nôm”: “Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom” “Tự tình I”; “Canh khua văng vẳng trống canh dồn” (Tự tình II); “Văng vẳng tai nghe tiếng khóc chồng” (Dỗ người đàn bà chết chồng); “Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì” (Bỡn bà lang khóc chồng)… 

Vì sao hình tượng không gian đêm khuya lại xuất hiện nhiều trong thơ Bà đến mức trở thành môtip với 12 lần trên 48 bài thơ: “Đêm thanh đánh lộn một đôi hồi” (Trống thủng); “Con cò mấp máy suốt đêm thâu” (Dệt cửi); “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn” (Tự tình II); “Đêm vắng cớ chi phô tuyết trắng…/ Năm canh lơ lửng chờ ai đó” (Hỏi trăng II);… 

Và rất nhiều những biến thể của “đêm”: “Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày” (Xướng họa với Chiêu Hổ); “Lấp ló đầu non vừng nguyệt chếch” (Cảnh chùa ban đêm); “Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ” (Cảnh thu); “Một trái trăng thu chín mõm mòm” (Trăng thu). Những tiếng “văng vẳng” trên đều vẳng ra từ đêm… 

Hình tượng đêm khuya này nói rất sâu về chủ thể trữ tình rất nhạy cảm về thính giác, luôn lắng nghe những âm thanh có thể là hữu thanh hoặc vô thanh của đêm. Chắc hẳn nhiều thi phẩm được tác giả nảy tứ, sinh tình và hoàn thiện trong không gian ấy!

Nhất là trong “Truyện Kiều” thì rất nhiều “đêm” làm điểm tựa cho các sự kiện: gặp Đạm Tiên, hẹn hò Kim Trọng, trao duyên Thúy Vân, Sở Khanh lừa đảo...

Trong văn học hiện đại, đêm cũng là một thi pháp quan trọng. Phân tích văn xuôi Thạch Lam không thể bỏ qua cái chìa khóa bóng đêm để bước vào thế giới nghệ thuật tinh tế, nhẹ nhàng, sâu lắng của ông. Bóng đêm bao phủ một màn sương mờ vào tác phẩm Thạch Lam để “mờ hóa” nhân vật. 

Các nhân vật Liên, An, chị Tí, bác Siêu, bố con bác xẩm trong “Hai đứa trẻ” như hoà vào bóng đêm gợi ở người đọc một niềm thương cảm, một nỗi xót nhẹ nhàng, một nghĩ suy về kiếp người mong manh. Ta hiểu vì sao họ cố mà chờ chuyến tàu đêm. Vì có ánh sáng. Câu chuyện nhen lên một chút hy vọng, dù mơ hồ vào sự thay đổi, một khát vọng có ánh sáng cho cuộc đời bớt đi bóng tối...

Trong truyện ngắn “Chữ người tử tù” (Nguyễn Tuân) là một sự đối lập tương phản đến triệt để bóng đêm và ánh sáng. Sự cho chữ “Thánh hiền” cao cả thiêng liêng ở trong không gian nhà tù đầy phân gián phân chuột. 

Đúng là một “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. “Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng” vẫn ung dung, tự tại cho chữ. “Những nét chữ trên tấm lụa bạch trắng tinh còn nguyên vẹn lần hồ” kẻ có chức quyền là thầy thơ lại, viên quản ngục “khúm núm, run run”. 

Hình tượng Huấn Cao và ngọn đuốc tỏa sáng xua đi bóng tối ngục tù. Truyện rất tiêu biểu cho mỹ học cái đẹp, cái thiên lương như ánh sáng có thể thức tỉnh nhân tâm, kéo con người từ bóng đêm về với cõi thiện, cõi đẹp!

Không có những đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài sẽ không có phong tục “trai đứng nhẵn đầu vách” tìm kiếm tình yêu trong “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài). Càng không có tiếng sáo văng vẳng khắp không gian vọng trong tác phẩm rồi vọng vào người đọc mời gọi trở về với rạo rực mùa yêu ở một nơi xa xôi khác lạ. 

Hẳn nhiên một người nồng nàn tha thiết như Mỵ sẽ không chấp nhận cái không gian tù đày mà tập quyền (tập quán), thần quyền (ma), cường quyền đã dồn đuổi Mỵ trở về với loài vật “như con rùa nuôi trong xó cửa”. Thế nên trong đêm Mỵ uống rượu ừng ực từng bát. Có phải Mỵ uống rượu đâu. Mỵ uống đi cái cay đắng, tủi hờn để mà say về một thế giới khác có tiếng sáo gọi bạn, có người tình đợi ngoài rừng kia... 

Tất yếu Mỵ cắt dây trói tức cắt đi sự trói buộc của các thứ quyền lực tàn ác kia để trở về đích thực là người phụ nữ Mông đầy sức sống, nồng nàn, khỏe khoắn xuân tình...

Đấy là trong văn chương, trong đời thực, khoa học cho biết, đêm quan trọng hơn ban ngày. Để ngủ, lấy sức tái sản xuất. Để dinh dưỡng tinh thần sau mệt ngày mệt nhọc. Để tư duy, trong giấc mơ những ý tưởng tuyệt vời sẽ xuất hiện. Nhất là các nhà thơ phải ngủ sâu hơn mới có thể gặp được Nàng Thơ!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.