Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu:

Đề tài chiến tranh vẫn cần tiếp tục được khám phá

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu sinh năm 1948, quê Nam Định, những năm chiến tranh chống Mỹ ở sư đoàn 312 tham gia chiến đấu ở Lào và chiến trường phía Nam, về học Trường viết văn Nguyễn Du, công tác ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Hội Nhà văn Việt Nam. Với Nguyễn Đức Mậu, dòng thơ trận mạc là dòng chủ lưu trong sáng tác của anh với nhiều tập thơ và trường ca được in trong mấy chục năm qua.

Có lẽ Nguyễn Đức Mậu nằm trong số ít nhà thơ viết khá nhiều về người lính và chiến tranh trong những năm tháng trận mạc mà người lính và nhà thơ có chung một chân dung, một khát vọng và những ước mơ. Trong số những bài thơ hay còn lại đến hôm nay, khi nói về những hy sinh mất mát trong chiến tranh, người yêu thơ thường nhắc tới bài thơ "Nấm mộ và cây trầm" của Nguyễn Đức Mậu. Không chỉ riêng với anh mà đối với mọi người, những kỷ niệm thiêng liêng và xót xa về những mất mát trong cuộc chiến tranh này vẫn là những dự cảm lớn lao và xúc động khi hồi tưởng lại như mấy trích đoạn thơ dưới đây:

    I. Tưởng nhớ

Đất đắp mộ Hùng bom trộn lẫn
Cây trầm cháy dở thay nén nhang
Cây trầm cháy rồi hương cứ thơm

Hùng ơi, mai gió mùa đông bắc
Võng bạt, canh khuya lại nhớ Hùng
Những đêm hai đứa xong phiên gác
Bao gạo gối đầu chăn đắp chung.

Nhớ khi mình ốm giữa rừng
Vị thuốc Hùng tìm qua ba trái núi
Quả khế rừng nấu con cá suối
Thương mình Hùng hoá trẻ đi câu.

Chúng mình có ở cách xa nhau
Một thước đất sao Hùng không nghe mình gọi…?
Một thước đất hoá khoảng trời vời vợi
Từ nay mình thương nhớ Hùng hơn xưa

Những lá thư Hùng chưa kịp đọc mình nghe
Thơ đánh giặc Hùng còn viết dở
Vết máu đỏ nhoà đi không rõ chữ
Mình đọc bao điều xúc động sâu xa.
 

    II. Hy sinh

Cái chết bay ra từ nòng súng quân thù
Nhận cái chết cho đồng đội sống
Ngực chặn lỗ châu mai, Hùng đứng thẳng
Lửa bén vào áo lính tuổi hai mươi.

"Chết - Hy sinh cho Tổ quốc" Hùng ơi
Máu thấm cỏ, lời ca bay vào đất
Hy sinh lớn cũng là hạnh phúc
Một cây xuân thành biển khắc tên Hùng.

Hùng nằm trong nôi của đất rộng vô cùng
Khoảng trời biếc hương trầm thơm hơn trước
Những đoàn quân đi đánh giặc
Có hoa rừng mang đến từ xa.

Đất Hùng nằm bom đạn đào trơ
Ngày hoa nở, đêm ngời sao tỏ
Tấm biển gỗ trên mộ người chiến sĩ
Thành bàn tay chỉ hướng quân thù.

    III. Ra đi

Cây trầm thơm từ gốc thơm ra
Như nhắc nhở với người đang sống
Thù riêng lớn, thù chung càng lớn
Hờn căm này nhân tiếp những hờn căm

Thôi mình đi Hùng nhé! Hãy yên nằm
Trận đánh đêm nay vắng Hùng gài bộc phá
Trận đánh trường kỳ vắng Hùng tham dự
Trận đánh cuối cùng chiến thắng phải về ta
Anh trinh sát hy sinh trao lại tấm bản đồ
Anh xung kích hy sinh phất cao cờ chuẩn
Xin Hùng hãy trao cho mình khẩu súng
Trận đánh vẫn còn tiếp diễn. Hùng ơi! …

Quân mình đang pháo kích nơi nơi
Hùng có thấy đất rùng rùng sấm dậy
Mặt trận chuyển vào sâu rồi đấy
Thôi mình đi, Hùng nhé! Hãy yên nằm

Thơm rất xa theo gió thoảng hương trầm
Cây trầm đẹp như cuộc đời chiến sĩ
Sống tươi tốt bao niềm tin bình dị
Thân hy sinh thơm đất, thơm trời.

Khi tôi hỏi nhà thơ về những kỷ niệm của người lính trong thơ anh và ở bài thơ "Nấm mộ và cây trầm", Nguyễn Đức Mậu kể lại bài thơ ấy anh viết năm 1969 khi 21 tuổi và đã gửi cho một biên tập viên ở một tờ báo thì bị biên tập viên chê là "tư tưởng yếu". Hồi ấy cả nước đang chiến tranh, thơ mà nhắc tới sự hy sinh mất mát là biên tập viên sợ "không an toàn".

Bốn năm sau, bài thơ được in và được trao giải thưởng văn học 27-7 do Hội Nhà văn Việt Nam và Bộ Thương binh - Xã hội tổ chức. Nguyễn Đức Mậu là một trong số ít nhà thơ có tác phẩm được in nhiều nhất thời bao cấp ở Việt Nam. Tác phẩm chính gồm có 15 tập thơ và trường ca, 5 tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn.

Khoảng năm 1980, trong dịp nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đi công tác ở Hải Phòng, nhà thơ Thanh Tùng có dẫn anh tới chơi nhà một bác công nhân già. Bác cũng có một người con tên là Hùng hy sinh trong chiến tranh (trùng với tên liệt sĩ trong bài thơ "Nấm mộ và cây trầm"), vì thế bác đã thuộc và cất giữ bài thơ này như một kỷ vật, một tiếng nói của người con. Trên những nẻo đường chiến tranh vừa đi qua, trong số những người lính ngã xuống, còn bao người tên là Hùng và bao người vô danh - kỷ niệm về họ đã hóa trầm trong lòng những người thân và mỗi người lính chúng ta.

Nguyễn Đức Mậu tâm sự: "Tôi là người lính nên có nhiều thơ viết về chiến tranh, viết về những điều mình quen thuộc nhất. Trộm nghĩ, kỵ nhất trong thơ là sự thương vay khóc mướn, nói thêu dệt, tô vẽ những gì không có, không phải của mình…".

Và đây là bài thơ "Sông Thạch Hãn" của anh: "Xin bạn cùng tôi đi dọc sông Thạch Hãn/ Con sông nóng như luồng xích đạo/ Qua nghìn lần pháo kích bom rơi/ Có con sông nào trên đất Việt Nam tôi/ Nhiều thương tích chiến tranh đến thế/ Hẳn mai sau các nhà khảo cổ/ Sẽ gặp dưới lòng đất sâu dấu vết bây giờ/ Mảnh sắt, mảnh gang lẫn cùng sỏi đá/ Vỏ đạn đồng có giống mũi tên xưa...?/ Những người lính Sư đoàn năm 72/ Ai đã một lần vượt sông Thạch Hãn/ ...Người đã khuất có nghe dòng sông hát/ Sông đưa người tới khoảng đất cỏ xanh/ Người bị thương có nghe sông hát/ Sông cho người gương mặt bình minh/ Bãi cát trắng ngổn ngang vỏ đạn/ Như bãi biển lô xô vỏ hến, vỏ hà/ Nhặt vỏ đạn mang về/ Sau trận đánh ta còn nghe tiếng nổ/ Khẩu đại liên trăm lần khạc lửa/ Đồng đội ta nhúng nước sông này/ Nòng thép bỏng xèo xèo bốc khói/ Súng cùng người khép tiếp vòng vây/ Cơn khát ta tìm đến nước sông này/ Người lính trườn qua cỏ gai, hốc đạn/ Làn môi khô áp xuống mặt sông đầy/ Lồng ngực trẻ tràn trề Thạch Hãn/ Những trận đánh áo xanh đất lấm/ Vết thương ta rửa nước sông này/ Sông gột sạch đất bùn, thuốc đạn/ Nước trong lành ta vốc đầy tay/ Dạy ta lối đánh thù gan góc/ Đây địa hình trơ trọi dọc triền sông/ Người lính sống cùng cây xương rồng/ Hoa cứ nở lúc ròng ròng nhựa xót...".

Nguyễn Đức Mậu là người được nhiều giải thưởng văn chương: Giải Nhất cuộc thi thơ Báo Văn nghệ năm 1972 - 1973; Giải C cuộc thi truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1981; Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001; Giải thưởng văn học ASEAN năm 2001; 3 giải thưởng Hội Nhà văn (1994, 1996, 1999); 3 giải Bộ Quốc phòng (1989, 1994, 2004), Giải thưởng văn học nghệ thuật của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam năm 2004.

Đã hơn 40 năm từ ngày chiến tranh giải phóng kết thúc (1975), tác phẩm về đề tài  chiến tranh trong thơ những năm gần đây có ít hơn so với các mảng đề tài khác. Liệu người làm thơ có cần trở lại nhìn nhận và hiểu biết thêm về chiến tranh ở những góc độ nhân sinh và góc khuất hiện thực khác như mảng tiểu thuyết vừa khai phá không? Với cách đặt vấn đề này, Nguyễn Đức Mậu giải đáp: "Đề tài chiến tranh không "lạc điệu" so với các đề tài trữ tình và các đề tài khác trong thời gian này, nói theo nhà thơ Mỹ Walt Whitman "Thơ hay có ở mọi nơi, chỉ trừ những bài thơ tồi".

Tôi cũng nghĩ như Nguyễn Đức Mậu, điều đáng nói trong thi ca không phải là đề tài mà là tài năng. Hãy thử dẫn chứng những bài thơ hay viết về chiến tranh như "Đất nước" của Nguyễn Đình Thi, "Tây Tiến" của Quang Dũng, "Núi đôi" của Vũ Cao, "Tình sông núi" của Trần Mai Ninh… người đọc vẫn không thấy "lạc điệu" so với dòng thơ hiện nay. Nhiều khi chúng ta đổ lỗi cho đề tài mà quên mất bản thân những người viết.

Nhưng rõ ràng, bây giờ viết về chiến tranh phải viết khác trước bởi ta đã có độ lùi sau mấy chục năm để nhìn nhận vấn đề thấu đáo hơn, sâu sắc hơn. Và khác với tiểu thuyết phải thông qua nhân vật, người làm thơ thường bắt đầu từ chính mình.

Mới đây, trong cuộc tọa đàm kỷ niệm 30 năm giao lưu văn Việt Mỹ với các nhà văn, nhà thơ Mỹ đến từ Trung tâm William Joiner, nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã nhận định: "Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam là một trong những cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trong lịch sử nhân loại, để lại nhiều đau thương mất mát cho dân tộc Việt Nam.

Và rồi người dân Việt Nam đã vượt qua nỗi đau đó bằng nghị lực phi thường của mình, bằng sự giúp đỡ của bè bạn khắp năm châu, trong đó có cả những người bạn Mỹ để hàn gắn vết thương chiến tranh đó. Ở đây có sự mẫn cảm của những người cầm bút. Có thể nói các nhà văn Việt, Mỹ đã đi trước con đường ngoại giao một bước. Họ đã biết chọn con đường văn hóa là con đường ngắn nhất để làm công việc hàn gắn những đau thương của chiến tranh".

Và bài thơ "Với một nhà thơ Mỹ" gửi nhà thơ cựu binh Mỹ Kevin Bowen của Nguyễn Đức Mậu là một dẫn chứng:

Thành phố Boston một chiều ngợp nắng
Một chiếc bàn con dưới bóng cây
Ồ cốc bia chúng ta cầm tay
Không phải là trái mìn chớp nổ

Và súc xích, khoai tây, đồ hộp trên bàn
Không phải là những cỡ đạn sát thương
Và không gian âm nhạc êm đềm
Không có tiếng rú gầm sắt thép

Chợt anh nhắc về 30 năm trước
Ngọn lửa cháy rừng bùng lên miệng cốc
Tôi nhớ đêm Trường Sơn mùa mưa
Từng mảng đêm ướt nhòa hốc mắt

Những tâm tình bao năm chiến tranh
Như hòa lẫn trong cốc bia sủi bọt
Tôi rót cho anh một cốc đầy mùa hạ
Mây trắng tràn miệng cốc, uống đi anh

Anh rót cho tôi một cốc buồn dĩ vãng
Một mảng chiều trong đáy cốc trời xanh
Thành phố Boston tôi và anh
Và mặt trời rót tràn men ánh sáng…

Bài thơ trên, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu viết trong chuyến đi thăm nước Mỹ của đoàn nhà văn Việt Nam nhằm tìm sự cảm thông và nối kết các nhà thơ cựu binh của hai nước sau cuộc chiến tranh tàn khốc ở Việt Nam. Thơ Nguyễn Đức Mậu là vậy, hồn hậu, chân chất, giản dị, đẫm mùi bùn đất và mùi trận mạc, như những người lính đã hiến dâng toàn bộ tuổi thanh xuân của mình cho đất nước trong suốt mấy chục năm chiến tranh đau thương, khốc liệt đã qua. 

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.