1.Trong thực thi công vụ, một quyết định sai có thể được phát hiện, kiểm tra, sửa chữa; người ra quyết định phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Nhưng, một việc bị bỏ lỡ do không ai dám quyết thì hậu quả đôi khi cũng rất lớn vì khiến dự án chậm triển khai, một nguồn lực không được khai thác, một cơ hội phát triển trôi qua... Những tổn thất ấy không phải lúc nào cũng được quy thành con số cụ thể, nhưng người dân và doanh nghiệp vẫn phải gánh chịu.
Nghị quyết số 24-NQ/TW đã thẳng thắn chỉ ra thực tế: Sau 5 năm thực hiện Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22/9/2021, của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung, tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm đã có những chuyển biến tích cực, song ở không ít nơi vẫn còn tình trạng cán bộ làm việc cầm chừng, sợ sai, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; có người viện dẫn những bất cập, chồng chéo của pháp luật để không quyết định, nhất là trước những vấn đề mới, khó, nhạy cảm và có rủi ro cao.
Đứng trước yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức mới đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phát huy mạnh mẽ tinh thần tiên phong, gương mẫu, đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Trong đó, với những việc mới, việc khó, chưa có tiền lệ, phải có không gian thử nghiệm có kiểm soát, theo hướng thử nghiệm, đánh giá, hoàn thiện, nhân rộng và luật hóa. Điểm quan trọng ở đây là bảo vệ phải bắt đầu trước khi rủi ro xảy ra, chứ không phải đợi cán bộ gặp rủi ro rồi mới tính chuyện bảo vệ.
Muốn cán bộ dám chịu trách nhiệm, trước hết, tổ chức phải dám giao trách nhiệm. Muốn cán bộ dám quyết, phải giao cho họ quyền quyết định tương xứng. Và, khi họ đã quyết định đúng thẩm quyền, vì lợi ích chung, trên cơ sở đã đánh giá và kiểm soát rủi ro, thì tổ chức phải có trách nhiệm đứng cùng họ.
Nhìn lại hành trình 40 năm Đổi mới của đất nước cho thấy, có những công trình trọng điểm, góp phần thay đổi kinh tế đất nước đã được xây dựng từ quyết định dám nghĩ, dám làm của những nhà lãnh đạo dấn thân, trong đó, quyết định xây dựng đường dây 500 kV Bắc - Nam năm 1992 của Thủ tướng Võ Văn Kiệt là một ví dụ tiêu biểu.
Đầu những năm 1990, Nhà máy Thủy điện Hòa Bình vừa hoàn thành và đưa vào hoạt động đã sản xuất ra lượng điện năng rất lớn. Tuy nhiên, lưới điện khu vực phía Bắc chưa tiêu thụ hết, dẫn đến lượng điện dư thừa bị bỏ phí do không thể truyền tải đi xa. Trong khi đó, miền Nam bước vào thời kỳ Đổi mới và phát triển kinh tế nhanh chóng, cần sản lượng điện lớn cho các nhà máy sản xuất công nghiệp, nhưng nguồn điện tại chỗ không đáp ứng đủ nhu cầu, phải cắt điện luân phiên thường xuyên, gây ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất.
Năm 1992, Chính phủ và Thủ tướng Võ Văn Kiệt đưa ra quyết định xây dựng đường dây truyền tải điện siêu cao áp 500 kV để nối liền dòng điện Bắc - Nam. Khi đó, trên thế giới chưa từng có quốc gia nào dám làm đường dây truyền tải điện cao áp dài hơn 1.000 km, vì vậy, rất nhiều ý kiến trái chiều về việc có nên hay không làm một đường dây truyền tải điện như vậy... Nhưng, Thủ tướng Võ Văn Kiệt thể hiện quyết tâm rất cao đối với dự án. Ông cho rằng, nếu muốn phát triển đất nước thì phải giải quyết được tình trạng thiếu điện, đồng thời phải xây dựng hệ thống điện có khả năng kết nối các vùng.
Ngày 5/4/1992, công trình chính thức khởi công. Đây là một dự án đặc biệt khó khăn khi tuyến đường dây dài gần 1.500 km, đi qua nhiều địa phương, với điều kiện thời tiết và địa hình phức tạp. Nhưng, chỉ sau hơn 2 năm triển khai, công trình hoàn thành. Ngày 27/5/1994, hệ thống điện Bắc - Nam được hòa vào lưới qua trạm 500 kV Đà Nẵng, chính thức đưa hệ thống 500 kV vào vận hành.
Từ Mạch 1 giai đoạn 1992-1994 đến Mạch 2 và Mạch 3 Quảng Trạch - Phố Nối, trục truyền tải này tiếp tục được củng cố, cho thấy năng lực của đội ngũ kỹ sư, công nhân Việt Nam ngày càng trưởng thành, làm chủ công nghệ, thiết kế và quản lý những dự án phức tạp. Nhìn lại thành quả 40 năm Đổi mới, đường dây 500 kV Bắc - Nam đóng vai trò là "động lực của động lực", thúc đẩy công nghiệp hóa, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các địa phương, củng cố quốc phòng - an ninh. Đặc biệt, với tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của nhà lãnh đạo cho thấy một quyết định dám làm không chỉ tạo ra một công trình mà có thể tạo ra năng lực mới cho cả quốc gia.
2.Đặt trong bối cảnh hôm nay, câu chuyện quyết định xây dựng đường dây 500 kV Bắc - Nam 34 năm trước gợi ra một vấn đề rất đáng suy nghĩ: dám làm không đồng nghĩa với coi thường rủi ro. Dám làm là nhìn thẳng vào rủi ro và nhận trách nhiệm về quyết định của mình. Người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung phải có năng lực, phải tính toán biết mình đang làm gì và giới hạn của mình ở đâu. Nhưng, nếu một quyết định đổi mới chỉ được coi là hợp lệ khi chắc chắn không có bất kỳ sai số nào, thì sẽ không tạo ra động lực để cán bộ dám đổi mới, sáng tạo.
Nghị quyết số 24-NQ/TW không tạo ra "tấm lá chắn" cho mọi quyết định nhân danh đổi mới mà đặt ra việc bảo vệ cán bộ trong khuôn khổ rất rõ: động cơ phải trong sáng, mục tiêu vì lợi ích chung, hành động trong phạm vi thẩm quyền, tuân thủ chủ trương, có biện pháp phòng ngừa và kiểm soát rủi ro.
Quan điểm Nghị quyết số 24-NQ/TW đưa ra rất rõ, đó là trọng dụng và bảo vệ cán bộ gắn với hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, quản trị rủi ro và trách nhiệm giải trình; bảo đảm cán bộ có không gian cống hiến, thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng, được bảo vệ khi có động cơ trong sáng, thực hiện đúng chủ trương, vì lợi ích chung. Xem xét miễn trừ, giảm nhẹ trách nhiệm đối với rủi ro khách quan, sai sót trong quá trình đổi mới, thử nghiệm, trên cơ sở đánh giá đầy đủ bối cảnh thực tiễn và đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết. Khuyến khích đổi mới, sáng tạo, kiến tạo cơ chế, chính sách đặc thù, đột phá gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương, minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực. Phân định rõ giữa đổi mới và vi phạm; thực hiện nhất quán, xuyên suốt cơ chế "giao quyền - giám sát thực thi - quản trị rủi ro - đánh giá bằng kết quả". Chủ động phòng ngừa, kiên quyết ngăn chặn và xử lý nghiêm hành vi lợi dụng danh nghĩa đổi mới, sáng tạo, dấn thân, đột phá để hợp thức hóa sai phạm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm.
Nghị quyết đặt ra yêu cầu đổi mới kiểm tra, giám sát theo hướng phòng ngừa, cảnh báo sớm, kịp thời chấn chỉnh sai sót ngay khi mới phát sinh; đồng thời, xử lý nghiêm những người lợi dụng chủ trương đổi mới để trục lợi, tham nhũng, tiêu cực, bao che sai phạm hoặc cố ý trù dập cán bộ dám nghĩ, dám làm.
Một cơ chế bảo vệ tốt phải làm được cùng lúc hai việc: khuyến khích người sáng tạo dám bước lên và ngăn người xấu lợi dụng con đường ấy để bước qua ranh giới pháp luật. Không thể vì sợ người ta lợi dụng mà đóng cửa với tất cả những người muốn đổi mới, nhưng cũng không vì khuyến khích đổi mới mà mở cửa cho sự tùy tiện. Cái cần thiết là một hành lang pháp lý đủ rộng để người có năng lực hành động, nhưng đủ chặt để quyền lực không bị lợi dụng.
3.Nghị quyết số 24-NQ/TW cũng đặt ra yêu cầu xử lý trách nhiệm với người né tránh, đùn đẩy, kéo dài thời gian hoặc không thực hiện đầy đủ trách nhiệm xem xét, quyết định các đề xuất đổi mới, sáng tạo thuộc thẩm quyền mà không có lý do chính đáng. Đây là một trong những thay đổi quan trọng về nhận thức trách nhiệm công vụ. Cán bộ không chỉ chịu trách nhiệm khi quyết định sai; họ cũng phải được xem xét trách nhiệm nếu không thực hiện nhiệm vụ thuộc thẩm quyền, cố tình trì hoãn, đùn đẩy, làm việc cầm chừng khiến công việc đình trệ và nguồn lực bị lãng phí. Một dự án không được tháo gỡ vì cán bộ sợ trách nhiệm; một chủ trương đúng bị chậm triển khai vì các cấp đùn đẩy, né tránh có thể không tạo ra sai phạm rõ ràng, nhưng hậu quả vẫn hiện hữu, thậm chí gây ra lãng phí nguồn lực xã hội, làm mất cơ hội phát triển của doanh nghiệp, người dân.
Vì vậy, Nghị quyết số 24-NQ/TW đặt ra cơ chế "chọn người theo việc, giao việc để thử thách, lấy kết quả để đánh giá, sàng lọc cán bộ". Người nhận việc khó, làm được việc, tạo ra sản phẩm phải được ghi nhận và trọng dụng; người né việc, đùn đẩy, trì trệ phải bị xử lý. Bảo vệ người dám nghĩ, dám làm không phải là bảo vệ một cá nhân khỏi mọi rủi ro mà chính là bảo vệ quyền được hành động vì lợi ích chung trong một hành lang pháp lý rõ ràng; bảo vệ động lực đổi mới; bảo vệ những người sẵn sàng nhận phần việc khó về mình, bảo vệ khả năng hành động của cả hệ thống. Đất nước đang đứng trước những vận hội và thách thức mới, vì thế, rất cần đội ngũ cán bộ vì lợi ích chung mà dám quyết khi cần quyết, dám làm khi cần làm, dám chịu trách nhiệm khi có rủi ro.
Đó cũng chính là những điều mà Nhân dân đang kỳ vọng vào đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới.