Chiến dịch trở về quê cũ
20 giờ 45 phút tối 27/5/1961, tại sân bay Đà Nẵng, một chiếc máy bay C47 sơn màu xanh, không có số hiệu, rời đường băng cất cánh bay về hướng Bắc. Ngoài phi hành đoàn 4 người do Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ, Chỉ huy trưởng Căn cứ không quân Tân Sơn Nhất, chỉ huy và trực tiếp cầm lái, còn có 4 thành viên toán biệt kích Castor với nhiệm vụ nhảy dù xuống tỉnh Sơn La. Trước khi chia tay, Đại úy Lò Ngân Dũng, sĩ quan tình báo của Liên đoàn 77, người sẽ trực tiếp chỉ huy toán Castor từ xa khi Castor hoạt động ở miền Bắc, dặn cả toán nhảy dù xuống địa điểm phía bắc Văn Yên. Tuy nhiên, Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ thông báo rằng tùy theo tình hình, nếu có thể được thì xuống bãi sông Đà, còn không thì sẽ vẫn nhảy xuống Tạ Khoa.
Trước khi tham gia đội quân biệt kích dưới cái mác lính của Lữ đoàn liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống, cả 4 thành viên toán Castor đều là lính ở Sư đoàn bộ binh 22 quân đội Việt Nam Cộng hòa. Khi Phòng 45, sau này là Liên đoàn 77, yêu cầu các quân, binh chủng tìm người cho đơn vị đặc biệt với yêu cầu là người dân tộc thiểu số, từng sống ở Tây Bắc để thông thuộc địa hình, sĩ quan tình báo của Sư đoàn 22 đã tìm ra 4 ứng viên theo đúng yêu cầu.
Toán trưởng, Thượng sĩ Hà Văn Chấp sinh năm 1927 ở Bản Mứng, xã Mường Chêng, châu Quỳnh Nhai, Lai Châu. Năm 17 tuổi, Chấp đi lính khố xanh và đóng quân ở thị xã Lai Châu. Tháng 4/1945, khi đơn vị được lệnh sang Trung Quốc đánh quân Nhật, trên đường hành quân, Chấp bỏ trốn về quê làm ruộng. Đầu năm 1947, khi Pháp chiếm thị xã Lai Châu, Chấp lại được tuyển vào làm lính.
Năm 1949, Chấp được cho đi học, phong hàm hạ sĩ và làm thư ký quân số Tiểu đoàn 51 quân đội Liên hiệp Pháp. Tháng 4/1954, Chấp theo tiểu đoàn vào Sài Gòn. Tiểu đoàn này sau đó sáp nhập vào Trung đoàn 42, Sư đoàn 22 bộ binh, quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng ở Quy Nhơn. Tháng 11/1960, sau khi được chọn vào lực lượng biệt kích, Chấp nhận lệnh chuyển về Lữ đoàn Liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống ở Sài Gòn.
Trung sĩ Đinh Văn Anh, người Mường, sinh năm 1931 ở Bản Lúa, xã Tân Phong, châu Phù Yên, Sơn La. Tháng 10/1960, đang làm lính ở Đại đội pháo binh, Trung đoàn 42, Đinh Văn Anh được gọi lên trình diện sĩ quan tuyển quân của Lữ đoàn liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống. Sau cuộc gặp này, Đinh Văn Anh nhận quyết định chuyển về Lữ đoàn liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống.
Trung sĩ Lò Văn Piếng, người dân tộc Thái, sinh năm 1931 ở Thuận Châu, Sơn La, cũng từng là lính Trung đoàn 42. Còn Trung sĩ Quách Thức trước khi được tuyển về Lữ đoàn Liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống, từng làm ở ban thông tin Trung đoàn 42.
***
Cuối năm 1960, về Sài Gòn, cả toán được các sĩ quan của Liên đoàn 77 trực tiếp huấn luyện nghiệp vụ truyền tin, tình báo, nhảy dù. Hàng ngày, cứ sáng học mã hóa, truyền tin, chiều lại lên máy bay đi học nhảy dù. Người trực tiếp huấn luyện Castor về kỹ thuật truyền tin là Đại úy Hoàng và hai nhân viên khác là Lê và Ngọc. Hoàng phân công cho Lê dạy Hà Văn Chấp và Đinh Văn Anh mã hóa tin; Ngọc dạy Lò Văn Piếng và Quách Thức đánh morse.
Theo kế hoạch, sau khi Castor xâm nhập được vào địa bàn Sơn La sẽ liên lạc với trung tâm chỉ huy tại Sài Gòn bằng cả đài một chiều và đài hai chiều. Đài một chiều chỉ có đánh ra mà không phải trả lời. Đài này dùng cho việc trung tâm chỉ thị cho Castor hoạt động hoặc cho biết tin tức về gia đình vợ con và những tin tức thông thường.
Về thời gian liên lạc với trung tâm chỉ huy đã quy định sẵn trong "lệnh căn bản truyền tin" có thể dùng trong 1-2 năm. Đại úy Dũng, sĩ quan tình báo Liên đoàn 77 yêu cầu Castor khi đã ổn định được chỗ ở thì sớm nhất trong khoảng 1-3 ngày, phải đánh điện báo cáo vào Nam. Khi đánh điện, Chấp sẽ thảo công điện, Đinh Văn Anh dịch mật mã và Lò Văn Piếng đánh điện. Nội dung bức điện đầu tiên báo cáo về trung tâm sẽ có nội dung đã nhảy đúng hay sai địa điểm, được an ninh hay không an ninh. Khi mới gặp dân thì không được dùng vũ khí đe dọa mà chỉ dùng tiền mua chuộc; về sau nếu họ phản bội thì có thể dùng vũ khí đe dọa nhưng tuyệt đối không được bắn giết vì nếu giết một người thì sẽ bị lộ và sẽ không còn chỗ trốn vì bị truy lùng. Khi đã gây được lòng tin với dân chúng và họ đồng ý mua giúp lương thực tiếp tế, dần dần sẽ nói với họ mình là người của chính phủ Ngô Đình Diệm ra Bắc để liên lạc với đồng bào chống lại Cộng sản Bắc Việt.
Để mã hóa một bức điện, Chấp và Anh phải học về chữ mới, dấu mới, học về khóa và chữ mới ghép vào nhau. Sau đó ghép chữ mới vào từ khóa rồi dịch ra chữ để đánh điện đi và ngược lại. Sau khi học lý thuyết sẽ phải thực tập bằng cách thảo công điện mã hóa để cho nhân viên truyền tin đánh điện; khi nhận công điện thì lại phải dịch ra chữ thường. Khi thực tập, Chấp, Anh sẽ mã hóa tin rồi giao cho Piếng, Thức đánh đi và ngược lại. Khi Piếng và Thức đã đánh morse thành thạo, Hoàng 3 lần mang máy ghi âm đến ghi cách đánh morse của từng người.
Hoàng giải thích với cả toán rằng: “Phải ghi âm để sau này có ai giả là các anh đánh điện chúng tôi sẽ biết ngay, vì mỗi người đánh điện đều có tật khác nhau". Trước khi kết thúc khóa học điện đài, 4 cố vấn Mỹ đến sát hạch hai lần. Trong đó với Piếng, Thức là hiệu thính viên, các cố vấn Mỹ yêu cầu điều chỉnh máy phát, máy thu trong 2 phút phải xong; với Chấp và Anh, yêu cầu thảo điện văn ngắn 1 dòng, không được dùng bảng dịch mã mà phải thuộc lòng và dịch ra mã hóa cho nhóm cố vấn xem.
Do có cấp hàm cao nhất nên Hà Văn Chấp được chỉ định làm toán trưởng. Chấp được Trung úy Lâm Thành Hy, sĩ quan tình báo của Liên đoàn 77 huấn luyện các kỹ năng làm gián điệp. Đó là cách tổ chức nhân viên mật vụ trên đất Bắc; dạy an ninh mật vụ, thu thập tin tức, hệ thống liên lạc, mực bí mật. Hy dạy Chấp để tuyển được người, phải tìm biết ý muốn và tính tình của người mình định tổ chức, phải nhằm vào các phần tử mà có sẵn những ý muốn ham tiền, danh vọng, vật chất, có oán thù với chính quyền. Đối với những người nghèo túng thì hết sức giúp đỡ, dùng tiền bạc mua chuộc họ. Khi họ đã đi theo thì cũng phải thận trọng, điều tra nhiều lần, theo dõi tư tưởng, tính cách của họ có thật sự muốn đi theo không thì mới nói cụ thể về công việc. Nếu trường hợp nói ra mà họ không nhận lời thì nên tránh mặt chứ không được dùng hình thức nào khác, bởi nếu ám sát họ thì sẽ dễ bị lộ.
Về nguyên tắc an ninh, Hy đưa ra 3 nguyên tắc: ngăn cách, võ học và che giấu. Ngăn cách là cấp dưới không có quyền tìm hiểu việc làm, lý lịch, quá khứ của cấp trên. Ngược lại, cấp trên có quyền tìm hiểu cấp dưới. Người đồng cấp với nhau cũng không được tìm hiểu nhau. Hy nói Chấp có quyền đề đạt ý kiến đề nghị thượng cấp cho tổ chức người này, người kia làm nhân viên, nhưng tuyệt đối giữ bí mật người ở tổ này không được biết người ở tổ khác. Hy quy định mỗi tổ chỉ có từ 2 đến 3 người, vì có như vậy mới đảm bảo bí mật. Chấp không có quyền tổ chức người mà chỉ được báo cáo rồi cấp trên quyết định. Những người được tuyển sẽ được cấp lương, tùy theo nhu cầu và khả năng của nhân viên ấy muốn cho bao nhiêu thì Chấp đề nghị để cấp trên xem xét giải quyết.
Võ học là một hình thức che giấu nhân viên mật vụ hoạt động trên đất Bắc. Võ học phải đảm bảo 5 yêu cầu. Mỗi khi nhân viên đi hoạt động phải có đầy đủ giấy tờ tại địa phương sẽ hoạt động. Cách ăn mặc, chi tiêu phải phù hợp với vai trò của mình với địa phương để tránh gây nghi ngờ. Phải biết luật lệ và thi hành các luật đó một cách đúng mức để tránh sự kiểm soát của chính quyền địa phương. Cần cắt đứt những quá khứ của mình và không nên gặp những họ hàng thân thuộc nếu xét thấy họ không ủng hộ mình. Việc xóa bỏ quá khứ còn là từ bỏ những thói quen nếu ở địa phương đó những thói quen này bị cấm. Luôn phải biết tìm những bằng chứng hợp lý, hợp pháp để che đậy hành động của mình, để khi chính quyền hỏi đến thì có đủ bằng chứng, lý lẽ để trình bày, đánh lạc hướng.
Về phương pháp thu thập tin tức về quân sự, kinh tế, chính trị và ngoại giao. Khi thu thập tin tức quân sự, Castor cần quan tâm đặc biệt việc di chuyển quân, nhất là di chuyển quân để vào Nam, cần phải tìm hiểu về quân số, vũ khí, doanh trại, tên cấp chỉ huy từ đại đội trở lên. Về tin tức kinh tế, cần xem miền Bắc xây dựng kinh tế thế nào, đặt quan hệ buôn bán với ai, xuất khẩu hàng hóa ra nước nào...
* * *
Sau khi kết thúc khóa huấn luyện, một buổi sáng giữa tháng 3/1961, từ sân bay Tân Sơn Nhất, toán Castor lên máy bay bay ra Đà Nẵng. Tại sân bay Đà Nẵng, Đại úy Dũng, người sẽ trực tiếp chỉ huy từ xa khi Castor ra Bắc đã chờ sẵn, bên cạnh có một tấm bản đồ lớn đặt trên bàn và một tấm không ảnh.
Đại úy Bình cho cả toán xem tấm ảnh chụp một thung lũng, xung quanh là núi thấp. Bình chỉ vào thung lũng trong ảnh rồi chỉ vào một vị trí trên bản đồ nói: "Các anh sẽ nhảy xuống đây. Chỗ này có một làng của người Mèo cách bãi nhảy khoảng 4 cây số, nhưng nay làng này đã dời đi nơi khác. Sau khi các anh xuống đất thì chôn dù ngay và thu lượm đồ đạc, máy móc chuyển qua suối phía tay trái có một khu rừng cây to chọn giấu đồ đạc và nấp ở đó. Sau đó các anh phải đánh điện về báo cáo cho trung tâm biết phi công thả có đúng chỗ không”.
Dũng dặn cả toán sau khi tìm được chỗ ẩn nấp an toàn, 4 người cần tìm về quê liên lạc với gia đình để làm giấy tờ; sau đó đóng giả làm người đi buôn trên sông Đà để nắm tin tức. Bình phát cho mỗi người 250 đồng tiền miền Bắc và nói rằng sử dụng làm vỏ bọc buôn bán. Ngoài số tiền phát chung cho cả nhóm, Hà Văn Chấp còn được Bình đưa cho 900 Kip Lào và 5 đồng bạc trắng hoa xòe, đề phòng khi bị lộ, mất hết máy liên lạc thì vượt sông Đà sang Lào rồi đi về tỉnh Phongsalỳ, từ đó đi theo hướng tây nam để về Viêng Chăn hoặc đi dọc biên giới Việt - Lào tìm về Savanakhét rồi liên lạc với trung tâm, Bình sẽ cho người đón về Sài Gòn.
Ngoài tiền bạc, Bình còn phát cho mỗi thành viên Castor một cái áo công tác. Trên cái áo ấy may tới 10 túi nhỏ và một túi to sau lưng, cùng bao súng ngắn may bên dưới nách trái chứa đầy đủ dụng cụ cần thiết gồm: một khẩu súng ngắn Browning kèm 3 băng đạn, 1 cái áo sợi, một bộ quần áo vải đen, một con dao con, một đèn pin, hai bản đồ, một bao thuốc lá hiệu "Hoàn Kiếm", một bao diêm "Thống Nhất", một bật lửa Trung Quốc, một cái địa bàn, bút chì, sổ tay, một mũ nồi đen và một khẩu phần lương khô.
Sau khi tìm được nơi ở có thể tìm dân chúng để tuyên truyền gây cơ sở như tìm gặp người nào đi rừng, đi làm nương gặp họ thì nói mình từng đi lính cho Pháp, giải ngũ rồi đi sang Lào làm ăn nhưng không sống được nay quay về Việt Nam nhưng sợ bộ đội bắt, nhờ bà con mua bán cho lương thực và thức ăn. Khi đã gây được niềm tin với dân thì sẽ đưa tiền nhờ họ mua giúp lương thực, tiếp tế và dặn họ địa điểm liên lạc. Nhưng mỗi lần trước khi gặp họ để nhận đồ tiếp tế thì phải đứng ở một nơi quan sát, nếu họ đến một mình thì gặp, nếu họ đi đông người hoặc không đến chỗ hẹn thì phải trốn đi nơi khác… Tuy nhiên, chuyến đó cả toán phải quay về vì sương mù quá dày nên không xác định được điểm nhảy dù.
Giữa tháng 3/1961, sau lần đầu tiên ra Bắc không thành phải quay về, cả toán vẫn tiếp tục học cách mã hóa để truyền tin. Một hôm, Đại úy Hoàng đem cuốn sách nhỏ có tên "Hiệu triệu Hồ Chủ tịch" ra dạy Chấp, Thức, Piếng cách lấy chữ trong cuốn sách này để mã hóa và truyền tin. Hoàng giải thích đài để nhận tin mã hóa bằng cuốn sách này là đài riêng của Liên đoàn 77, cố vấn Mỹ cũng không biết. Hoàng yêu cầu Chấp, Piếng, Thức chỉ dùng mã hóa này trong những trường hợp khẩn cấp báo tin về quân sự như miền Bắc chuyển quân sắp đánh vào miền Nam…
Sau đó, toán Castor còn 5 chuyến tiếp theo nhưng đều phải quay về vì sương mù nên không xác định được địa điểm. Cả Dũng và Bình vẫn yêu cầu Castor nhảy dù xuống địa điểm ven sông Đà, phía bắc Văn Yên khoảng 25km, nơi đó khúc sông hình chữ "S", có bãi cát và rừng non, cạnh đó là rừng già, không nhảy xuống vùng Tạ Khoa vì khu vực đó khó và xa…
22 giờ 5 phút đêm 27/5/1961, chuyến thứ 7 toán Castor ra Bắc, khi máy bay đến địa điểm nhảy dù, đèn đỏ trên khoang bật sáng, cửa máy bay từ từ mở ra; vài phút sau đèn xanh bật lên, chuông reo, 3 nhân viên trong phi hành đoàn phụ trách việc nhảy dù lần lượt đẩy hai kiện hàng ra trước, tiếp đến Toán trưởng Hà Văn Chấp lao ra khỏi máy bay rồi lần lượt Lò Văn Piếng, Quách Thức, Đinh Văn Anh. Khi Anh vừa rời khỏi máy bay, Nguyễn Cao Kỳ vội vã chuyển hướng bay sang Lào. Chỉ vài phút sau, chiếc C47 đã mất hút vào màn đêm.
Chuyên án PY27
22 giờ 5 phút đêm 27/5/1961, lực lượng cảnh giới ở châu Phù Yên, tỉnh Sơn La nghe tiếng máy bay lạ đã đánh kẻng báo động. Lập tức Bộ đội, Công an, dân quân cùng bà con dân bản triển khai ngay đội hình truy lùng gián điệp biệt kích. Điểm cao 828 thuộc bản Hỳ, xã Phiềng Ban, châu Phù Yên được xác định là điểm biệt kích nhảy dù, lực lượng truy lùng tổ chức bao vây chặt điểm cao đồng thời báo cáo về Công an Khu Tây Bắc và Bộ Công an. Sau 3 ngày truy lùng, toàn bộ toán gián điệp biệt kích bị bắt sống cùng máy móc, vũ khí khi chưa kịp liên lạc với trung tâm chỉ huy tại Sài Gòn.
Sau này, Lò Văn Piếng nhớ lại: "Xuống đến đất, nghe tiếng súng, sợ quá tôi chạy trốn. Ông Anh cũng chạy với tôi sang quả núi khác, chạy loanh quanh trong rừng. Đói quá, may mà Anh còn một cái bánh, chúng tôi ăn. Sau đó chúng tôi phải ăn lá cây. Trong thời gian chạy trốn, chúng tôi bàn đi về quê Đinh Văn Anh để tìm cách liên lạc với gia đình, kiếm ăn rồi sẽ tùy tình hình tính tiếp. Anh nói về bản cũng sợ vì tình hình bây giờ đã thay đổi nhiều. Chúng tôi chạy chừng hai ngày đêm thì bị bắt. Hôm bị bắt, hai chúng tôi đang đứng trên núi, nghe tiếng hô đứng lại, hai chúng tôi lăn từ trên núi xuống, súng bắn nhiều, sợ quá tôi giơ tay hàng".
Còn tình cảnh của Hà Văn Chấp cũng không khá hơn. "Trong khi dù còn đang vướng vào một cành cây cách mặt đất khoảng hơn 2m thì tôi nghe thấy tiếng la ó ở gần đó. Tôi giật dù cho rơi xuống thì nghe thấy tiếng súng nổ rất gần. Tôi vội tháo dù, tháo áo nhảy dù, trên người chỉ còn mặc chiếc "áo công tác" và một bình nước, tôi bắt đầu chạy. Tôi chạy theo hướng tây đến một quả núi gần đó, chui vào một bụi rậm có cây cối, móc túi sau ra quyển "Hiệu triệu Hồ Chủ tịch", tháo thắt lưng và ca uống nước nhét vào bụi nứa rồi lại chạy tiếp. Khi lên đến đỉnh núi, tôi nằm xuống đám cỏ tranh nghỉ một lúc thì trời sáng. Đứng trên đỉnh núi, tôi không thấy có chiếc dù hay vật gì từ trên máy bay đã thả xuống lúc đêm, chỉ thấy ở cách chỗ tôi nhảy khoảng 60m có hai ngôi làng. Chính giữa hai làng có một đám ruộng lúa, gần đó là cái bãi mà chúng tôi đã nhảy.
Tôi ngắm hướng tây nam đi, định sang sông Đà để đến biên giới Việt Lào rồi trốn sang Lào. Cả ngày 28/5, tôi đi suốt ngày, tối ngủ lại trên rừng. Lúc ấy trong túi tôi có 2 thẻ bánh được phát phòng khi trốn tránh bị đói, nhưng tôi không ăn mà cố nhịn để đến sông Đà ăn lấy sức bơi sang sông. Sáng 30/5, gặp một con suối nhỏ, tôi đi dọc con suối này để tìm sông Đà. Ra khỏi suối, tôi gặp 3 người đàn ông đi thuyền con dọc sông Đà, họ hỏi giấy tờ, tôi không có, họ bắt luôn, trói lại bỏ xuống thuyền chở tôi về làng cách đó độ 100m. Ba ông đưa tôi về làng, cho ăn uống rồi dẫn giải tôi bằng thuyền đến một làng khác dọc theo đường ôtô. Chúng tôi đi theo đường ôtô đến một nơi có ôtô đỗ, họ cho tôi lên xe chở tôi về thị trấn Phù Yên".
Về đến Phù Yên, Chấp gặp lại cả toán Castor. Hóa ra Quách Thức bị bắt đầu tiên vào chiều 28/5 rồi đến Anh, Piếng. Vậy là sau 3 ngày nhảy dù xuống đất Bắc, cả toán Castor bị bắt.
Nhận được báo cáo của Công an Khu Tây Bắc, Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị Nguyễn Tài tức tốc dẫn một đoàn cán bộ lên Sơn La và trực tiếp hỏi cung nhóm gián điệp biệt kích.
Sau vài ngày được đồng chí Nguyễn Tài thuyết phục, Hà Văn Chấp và cả toán đã khai hết nhiệm vụ mà trung tâm giao cho toán Castor, đặc biệt là các nghiệp vụ tình báo, kỹ thuật các bước mã hóa tin và phương thức truyền tin qua điện đài của Castor với trung tâm chỉ huy.
Đinh Văn Anh khai rằng theo kế hoạch, sau khi gây dựng được cơ sở, Anh và Quách Thức sẽ tách nhóm, xuống Hòa Bình. Hà Văn Chấp, Lò Văn Piếng sẽ ngược lên Sơn La, Lai Châu để mở rộng địa bàn hoạt động, xây dựng căn cứ vì trung tâm đã có người cài ở đó. Để thực hiện kế hoạch này, ngoài các phương tiện, vũ khí, máy móc lên lạc với trong Nam, trước khi lên đường, Đại úy Dũng đưa cho Đinh Văn Anh một tờ tiền miền Bắc có mệnh giá 2 đồng và dặn sau khi nhảy dù xuống an toàn, trung tâm sẽ cho biết địa điểm để đi gặp một người, người này đã biết mặt tôi vì trước đó họ đã được xem ảnh…
Trong kế hoạch do Đại úy Dũng giao cho Đinh Văn Anh cũng đề phòng trường hợp Hà Văn Chấp bị chết hay thất lạc thì Đinh Văn Anh sẽ thảo công điện, mật mã hóa rồi đưa cho Piếng đánh điện. Nội dung bức điện là: "Nhảy xuống có an ninh, nhưng khi di chuyển bị du kích, bộ đội bắt, không thấy Castor 3, 4 đâu, không biết bị bắt hay thất lạc". Dũng dặn Anh rằng phải tìm địa điểm an toàn trong khu rừng kín, xa làng mạc để làm nơi ở và lập căn cứ...
Sau khi có lời khai của cả toán, Cục trưởng Nguyễn Tài đã họp với lãnh đạo Công an Khu Tây Bắc và xác định việc bắt giữ toán Castor khi chúng chưa kịp liên lạc với trung tâm chỉ huy ở Sài Gòn để thông báo việc bị truy lùng là một thắng lợi bước đầu. Do địch chưa biết Castor bị bắt nên chắc chắn sẽ tiếp tục tăng cường các toán gián điệp biệt kích ra Bắc, vì vậy cần lập chuyên án đấu tranh với trung tâm địch. Bản kế hoạch nghiệp vụ sau đó được báo cáo lên Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn, theo đó sẽ dùng chính toán Castor để dụ địch chuyển các loại phương tiện, vũ khí hiện đại cho ta.
Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn đồng ý thành lập chuyên án mang bí số PY27. Bộ Công an giao cho đồng chí Trần Triệu, Giám đốc Công an Khu Tây Bắc, trực tiếp chỉ huy; đồng chí Nguyễn Trọng Tháp, sau này là Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Giám đốc Công an tỉnh Lai Châu, nguyên Cục trưởng Cục Chống phản động, Tổng cục An ninh, khi đó là Phó trưởng Phòng Bảo vệ chính trị, được giao nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh chuyên án và một số trinh sát nội tuyển, trinh sát kỹ thuật đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo Bộ.
Một cuộc chiến âm thầm, gian khổ trên núi rừng Tây Bắc chính thức bắt đầu.
(Còn nữa)